vanban.org

Bản án 63/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 28/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Phạm Văn H 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/6/2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 889/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Cô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ UÔNG BÍ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2023/HSST
Ngày: 28-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Huy Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Tuấn Anh và ông Thái Quang Định.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Mây - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nhung – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2023/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn H, tên gọi khác: không có; sinh ngày 29/9/1999, tại thành phố U, tỉnh Q. Nơi cư trú: tổ 4, khu 2, phường V, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn D và bà Ninh Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 24/6/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, có mặt.

*Người làm chứng:

1. Anh Tạ Minh H, sinh năm: 1994; địa chỉ: tổ 10, khu 2, phường V, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

2. Anh Phạm Minh Đ, sinh năm: 1997; địa chỉ: tổ 5, khu 2, phường V, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 24/6/2023, Công an thành phố Uông Bí làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 10, khu 2, phường V, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Phạm Văn H có hành vi cất giấu trái phép chất nghi là ma túy. Quá trình kiểm tra, phát hiện và thu giữ tại túi quần phía trước, bên trái H đang mặc 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (4x7,5) cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M1) và 04 viên nén hình trụ tròn màu xám (kí hiệu M2). Ngoài ra còn tạm giữ của H 01 điện thoại di động Iphone lắp sim số 0528.132.999; 01 điện thoại Iphone lắp sim số 0768.375.245.

Tại kết luận giám định số 889/KL-KTHS ngày 29/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật kí hiệu M1 gửi giám định là ma túy; loại Ketamine; khối lượng 0,441 gam; Mẫu vật kí hiệu M2 gửi giám định là ma túy; loại MDMA; khối lượng 1,515 gam.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa Phạm Văn H khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 22/6/2023, khi đang ở nhà thì có nhu cầu sử dụng ma túy Ketamine và thuốc lắc, H gọi điện cho một người đàn ông tên H1 ở thành phố Hải Phòng hỏi mua 05 viên thuốc lắc và ma túy “ke” với giá 1.000.000 đồng. H một mình đi đến điểm hẹn tại khu vực cổng Bạch Đằng Giang thuộc huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng gặp H1. H1 đến đưa cho H 01 túi nilon màu trắng bên trong có 05 viên thuốc lắc và ma túy loại Ketamine. Sau đó H đi về nhà sử dụng một viên thuốc lắc và một ít Ketamine, số ma túy còn lại H cất vào túi quần phía trước bên trái đang mặc. Đến khoảng 22 giờ ngày 24/6/2023, H đang ngồi uống nước cùng nhóm bạn tại quán Cafe Đà Lạt thuộc khu 2, phường V, thành phố U thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra, bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Tại Cáo trạng số: 59/CT- VKSUB ngày 04/8/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 24/6/2023.

- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy không vì mục đích lợi nhuận, bị cáo không có tài sản riêng nên đề nghị HĐXX không áp dụng.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 889/KL-KTHS ngày 30/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, còn nguyên vẹn và 01 sim điện thoại số 0528.132.999; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu đen.

Bị cáo không tranh luận; lời nói sau cùng bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, với lời khai của người làm chứng, với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường Vàng Danh, thành phố Uông Bí lập hồi 22 giờ 10 phút ngày 24/6/2023, với vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ, ngày 24/6/2023, tại quán Cafe Đà Lạt thuộc tổ 10, khu 2, phường Vàng Danh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Văn H là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự có hành vi tàng trữ trái phép 0,441 gam ma túy loại Ketamine và 1,515 gam ma túy loại MDMA, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt:

Hình phạt chính:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức đầy đủ về hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì đua đòi, không vượt qua được sự cám dỗ của ma túy, với thái độ coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội bị cáo đã cố ý phạm tội, nên cần phải xử lý nghiêm.

*Tình tiết tăng nặng: không có.

*Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên. Căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét bị cáo không có tài sản riêng, mua ma túy để sử dụng không nhằm mục đích bán kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Số ma túy Ketamine và MDMA thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm tàng trữ, sim điện thoại số 0528.132.999 bị cáo dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; điện thoại Iphone màu đen là công cụ phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Những tình tiết khác trong vụ án: Đối với đối tượng tên H1, H khai bán ma túy cho H, quá trình điều tra không xác định được lai lịch địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ vào: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Phạm Văn H 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/6/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 889/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định, còn nguyên vẹn và 01 sim điện thoại số 0528.132.999; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone màu đen.

(Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 8 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Uông Bí và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ