- Tranh chấp gì? án hình sự — "Soi -Hải MBTPCMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2023/HSST Ngày: 22/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Kiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Hùng và ông Nguyễn Văn Duệ
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Lành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại Điểm cầu Trung tâm Toà án nhân dân TP. Hà Nội và điểm cầu thành phần Trại tạm gian số 1 – Công an TP. Hà Nội, Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2023/HSST ngày 26/7/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2023/QĐXXST-HS ngày 08/8/2023, đối với bị cáo:
1. Lê Văn S - sinh năm 1993; Nơi ĐKNKTT và nơi ở: thôn M, xã H, huyện Ứ, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị V; chưa c v , con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 17/8/2020, bị Toà án nhân dân (Viết tắt: TAND) huyện Ứng Hoà ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng. Ngày 28/10/2022 chấp hành xong. Nhân thân: - Năm 2010 bị TAND huyện Ứng Hoà, TP. Hà Nội xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý"; chấp hành xong hình phạt ngày 11/7/2014; - Năm 2016 bị TAND huyện Thanh Oai, TP. Hà Nội xử phạt 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt ngày 09/4/2018. Bị bắt quả tang, bị tạm giam giữ từ ngày 18/4/2023 đến nay. C mặt.
2. Hoàng Văn H - sinh năm 1969; Nơi ĐKNKTT và nơi ở: thôn 7, xã Phương Khê, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 3/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Hữu P và bà Hoàng Thị D; c v Tạ Thị H – sinh năm 1976 và 01 con sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: -Năm 2008, bị Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi trộm cắp tài sản (đã chấp hành); - Năm 2008, bị UBND tỉnh Hà Nam ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục về hành vi trộm cắp tài sản với thời gian 24 tháng; - Năm 2011, bị TAND thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. chấp hành xong hình phạt ngày 22/01/2013; - Năm 2014, bị TAND huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. chấp hành xong hình phạt ngày 20/01/2020; - Năm 2022, bị Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi đánh bạc (đã chấp hành nộp phạt). Bị bắt quả tang, bị tạm giam giữ từ ngày 18/4/2023 đến nay. C mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Mạnh T – SN 1991
Trú tại: thôn T, xã Đ, huyện U, TP. Hà Nội (vắng mặt)
* Người làm chứng: Nguyễn Văn T – SN 1992 (vắng mặt)
Trú tại: thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c t m tắt như sau: Khoảng 07 giờ ngày 18/4/2023, Lê Văn S đi từ nhà đến khu vực thôn P, xã P, huyện U, TP. Hà Nội tìm và mua đư c 6.000.000đ ma tuý loại Heroin của một người đàn ông tên “Quang”. Sau khi mua đư c ma tuý, Soi về nhà chia thành 20 g i nhỏ để bán kiếm lời.
Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, c Hoàng Văn H ở thôn Phương Khê, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đến hỏi mua của Soi 05 g i ma tuý với giá 2.000.000đ. Sau khi mua đư c ma tuý, trên đường về khi đến thôn Xuân Đài, xã Trầm Lộng, huyện Ứng Hoà thì Hải bị Tổ công tác Đội Cảnh sát Kinh tế, Ma tuý - Công an huyện Ứng Hoà phối h p với Công an xã Trầm Lộng kiểm tra bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: 05 gói ma tuý có đặc điểm bên ngoài bọc bằng nilong, bên trong bọc bằng giấy, trong cùng chứa chất bột màu trắng (ký hiệu mẫu H1).
Về phía Lê Văn S sau khi bán ma tuý cho Hải xong thì Soi sử dụng 01 g i ma tuý rồi đi đổ xăng và chi tiêu cá nhân hết 600.000đ.
Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày c Nguyễn Mạnh T ở thôn Thọ Vực, xã Đội Bình, huyện Ứng Hoà, TP. Hà Nội đến nhà Nguyễn Văn Thiện ở thôn Thuỵ Sơn 1, xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam rủ Thiện đi mua ma tuý về cùng sử dụng thì Thiện đồng ý. Sau đ , T và T đi nhờ xe mô tô của người không quên biết đến khu vực xã Hoà Lâm thì xuống xe đi bộ đến nhà Lê Văn S thì T hỏi mua của Soi 01 g i ma tuý với giá 200.000đ, S đồng ý bán thì T đưa cho S 200.000 đồng, S cầm tiền cất vào cạp quần rồi lấy 01 g i ma tuý đưa cho T thì bị Tổ công tác Đội Cảnh sát kinh tế, ma tuý - Công an huyện Ứng Hoà phối h p với Công an xã Hoà Lâm phát hiện kiểm tra thì S ném gói ma tuý bán cho Tường c đặc điểm kích thước (2x1)cm, bên ngoài bọc bằng nilong màu xanh, bên trong bọc bằng giấy vào khe cửa cách vị trí Soi đứng 01m và ném túi ni lông kích thước (10x5)cm, bên trong c 13 g i trong đ 12 g i bọc nilong màu xanh, 01 g i nilong màu hồng, bên trong đều bọc bằng giấy ra nền nhà. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Văn Soi và thu giữ vật chứng theo qui định.
Vật chứng thu giữ: “- 01 gói nilong kích thước (2x1)cm, bên ngoài bọc bằng nilong màu xanh, bên trong bọc bằng giấy, trong cùng là bột màu trắng (niên phong vào phong bì số 01); - 01 túi nilong kích thước (10x5)cm, bên trong có 13 gói trong đó 12 gói bọc nilong màu xanh, 01 gói nilong màu hồng, bên trong đều bọc bằng giấy, trong cùng đều là bột màu trắng (niên phong vào phong bì số 02); - 01 điện thoại Samsung Glaxy A13, màu đen số seri: R58W11BABGM, số OMEI 1: 350013885817667, số IMEI 2: 352270635817664, đã qua sử dụng; - Tiền Việt Nam đồng 1.600.000 đồng”.
Cùng ngày, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn S tại thôn Mỹ Lâm, xã Hoà Lâm, huyện Ứng Hòa, nhưng không phát hiện thu giữ gì.
Bản kết luận giám định số 2496 và 2497/KL-KTHS ngày 25/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP. Hà Nội, kết luận: “- Chất bột màu trắng bên trong 05 gói giấy (bên ngoài đều bọc 01 lớp ni lông, ký hiệu mẫu H1) đều là ma tuý loại Heroine, tổng khối lượng 0,691gam. - Phong bì 01: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy (bên ngoài bọc ni lông màu xanh) là ma tuý loại Heroine, khối lượng: 0,046 gam. - Phong bì 02: Chất bột màu trắng bên trong 13 gói giấy (bên ngoài đều bọc ni lông, trong đó 12 gói ni lông màu xanh và 01 gói ni lông màu hồng) đều là ma tuý loại Heroine, tổng khối lượng 1,619 gam”.
Bản cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 25/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố Lê Văn Soi về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự (Viết tắt: BLHS); truy tố Hoàng Văn Hải về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo Soi từ 08 đến 09 năm tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo Hải từ 24 đến 30 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy gửi lại sau giám định; tịch thu sung quỹ Nhà nước 1.600.000đ thu giữ của bị cáo Soi; chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo Soi không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Người c quyền l i nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đư c tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Quá trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.
2 Quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai tại phiên tòa phù h p với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác c trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử (Viết tắt: HĐXX) c đủ căn cứ xác định: Lê Văn S là đối tư ng nghiện ma túy. Sáng ngày 18/4/2023, S đi đến khu vực thôn Phí Trạch, xã Phương Tú, huyện Ứng Hoà mua của một người đàn ông Soi khai tên là “Q ” 6.000.000 đồng ma tuý loại Heroin rồi đem về chia thành 20 g i nhỏ để sử dụng và bán lại kiếm lời. Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 18/4/2023, tại thôn Mỹ Lâm, xã Hoà Lâm, huyện Ứng Hoà, TP. Hà Nội, Soi đã bán 05 g i c tổng khối lư ng 0,691 gam với giá 2.000.000 đồng cho Hoàng Văn Hải ở thôn Phương Khê, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam để H sử dụng cho bản thân; khi H đi về đến thôn An Cư, xã Trầm Lộng, huyện Ứng Hoà thì bị Tổ công tác Đội Cảnh sát Kinh tế, Ma tuý - Công an an Huyện Ứng Hoà phối h p với Công an xã Hoà Lâm bắt quả tang. Đối với Lê Văn S , số ma tuý còn lại 15 g i Soi sử dụng hết 01 g i, còn 14 g i cất giấu trong người để bán kiếm lời. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Soi tiếp tục bán 01 gói khối lư ng 0,046 gam với giá 200.000 đồng cho Nguyễn Văn T ở thôn Thọ Vực, xã Đội Bình, huyện Ứng Hoà để Tường sử dụng cho bản thân. Sau khi nhận tiền, Soi chưa kịp đưa g i ma tuý cho Tường thì bị Tổ công tác Công an mật phục bắt quả tang. Khi bị bắt giữ, Soi đã ném g i ma tuý bán cho T vào khe cửa nhà và ném túi nilon bên trong chứa 13 g i ma tuý còn lại c tổng khối lư ng 1,619 gam vào trong nền nhà nhằm mục đích phi tang nhưng vẫn bị phát hiện bắt giữ. Hành vi bán ma tuý cho Hoàng Văn H và Nguyễn Mạnh T của Lê Văn S , theo qui định của pháp luật hình sự thì Soi đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” qui định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của BLHS; đối với hành vi của Hoàng Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” qui đinh tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Bởi vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản luật đã viện dẫn là c căn cứ, đúng pháp luật.
3 Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, mà còn làm gia tăng tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của nòi giống, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Đáng lưu ý, về nhân thân của cả hai bị cáo Soi và Hải đều rất xấu, các bị cáo trước đ đều nhiều lần bị xét xử trong đ đều c hành vi “mua bán và tàng trữ trái phép chất ma tuý”; riêng bị cáo Soi lần phạm tội này vẫn còn đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện. Hành vi của các bị cáo đều thể hiện thái độ bất chấp, coi thường pháp luật, không c ý thức từ bỏ ma tuý. Các bị cáo đều c đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức đư c hành vi nhưng cố ý vi phạm; vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mới c tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.
4 Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo đều không c tình tiết tăng nặng, quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên đư c hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. mặt khác, xét bản thân các bị cáo đều là đối tư ng nghiện ma tuý, hành vi tàng trữ ma tuý của Hải chỉ nhằm thỏa mãn ham muốn của bản thân; hành vi mua bán ma tuý của S c ng nhằm kiếm lời để lấy tiến mua ma tuý thoả mãn ham muốn bản thân. Các bị cáo đều không c công việc và thu nhập ổn định, bị cáo S chưa c v , con nên c thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, đồng thời miễn hình phạt bổ sung cho cả hai bị cáo để các bị cáo yên tâm cải tạo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật hình sự và chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội.
5 Về nguồn gốc số ma túy: S khai nhận ngày 18/4/2023, Soi đến thôn Phí Trạch, xã Phương Tú, huyện Ứng Hoà mua của một người đàn ông tên “Quang”. Quá trình điều tra xác định đại bàn xã Phương Tú c đối tư ng tên Nguyễn Văn Q , sinh năm 1975. Tuy nhiên, Q không thừa nhận đã bán ma tuý cho Soi. Soi khai việc mua bán ma tuý giữa Soi và Quang diễn ra tại đường làng, không c ai khác biết nên Cơ quan điều tra không c đủ căn cứ để xử lý Q .
6 Đối với Nguyễn Mạnh T , ngày 18/4/202 đã c hành vi mua của Soi 0,046 gam Heroin. Về nhân thân: Tường chưa c tiền án, tiền sự liên quan đến ma tuý nên hành vi của Tường chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” qui định tại Điều 249 của BLHS. Vì vậy, Công an huyện Ứng Hòa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Tường là phù h p.
Đối với Nguyễn Văn T , ngày 18/4/2023 đã đi cùng Tường mua ma tuý. Tuy nhiên, người mua ma tuý và tiền mua ma túy là của Tường, hành vi của Tường chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Thiện là đúng pháp luật.
[8 Về xử lý vật chứng: 03 phong bì thư chứa ma túy đư c niêm phong gửi lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; số tiền thu giữ của Soi là tiền do phạm tội mà c cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; chiếc điện thoại di động thu giữ của Soi không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại bị cáo.
[9 Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và đư c quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Lê Văn S 08 (Tám) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/4/2023; tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Hoàng Văn H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/4/2023; tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
3. Tịch thu tiêu hủy 03 phong bì thư niêm phong chứa ma tuý gửi lại sau giám định; tịch thu sung quỹ Nhà nước 1.600.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Văn S; trả lại bị cáo Soi chiếc điện thoại Samsung Glaxy A13, màu đen số seri: R58W11BABGM, số OMEI 1: 350013885817667, số IMEI 2: 352270635817664 (Phong bì thư niêm phong chứa ma tuý, điện thoại di động và số tiền có tình trạng, đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ứng Hòa với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa ngày 16/8/2023 và giấy uỷ nhiệm chi giữa Công an huyện Ứng Hoà và Chi cục Thi hành án hình sự huyện Ứng Hoà tại Kho bạc Nhà nước huyện Ứng hoà ngày 02/8/2023).
4. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí HSST.
5. Các bị cáo đư c quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người c quyền l i nghĩa vụ liên quan đư c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản sao bản án hoặc bản án đư c niêm yết, tống đạt h p lệ. (Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo nội dung liên quan đến quyền lợi của chính mình)./.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - CA, VKS, THADS Ứng Hòa; - Bị cáo; Người có QLNVLQ; - Lưu HS, VP./. Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Kiến Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà |