- Tranh chấp gì? án hình sự — "PHẠM VĂN H1 - “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? TUYÊN BỐ: Phạm Văn H1, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2023/HSST Ngày: 14/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ÔNG LÊ VĂN XÔ.
Các Hội thẩm nhân dân.
1/ ÔNG LA MINH CÔNG.
2/ ÔNG NGUYỄN NGỌC DUY.
Thư ký phiên tòa: BÀ NGUYỄN THỊ THANH NHI – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: ÔNG PHAN QUỐC KHÁNH – kiểm sát viên.
Ngày 14/6/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 56/2023/HSST ngày 18/5/2023; Quyết định xét xử số 44/2023/QĐXXST-HS ngày 23/5/2023 đối với bị cáo:
PHẠM VĂN H1 - Sinh năm 1996, tại Bình Thuận.
Nơi ĐKHKTT và chổ ở hiện nay: thôn X, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không.
Trình độ văn hóa: 06/12; Nghề nghiệp: làm nông.
Con ông: Phạm Văn M – 1966 và bà: Nguyễn Thị L - 1970.
Anh chị em ruột có 03 người; lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2001, bị cáo là con thứ hai.
Vợ: Đào Thị Ngọc L– 1999; Vợ chồng có 02 người con: lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2021.
Tiền án, Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/3/2023 đến ngày 17/5/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn cho bão lĩnh.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Phạm Văn M – 1966 (có mặt).
Trú: thôn X, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đối với hành vi của bị cáo Phạm Văn H1 được tóm tắt như sau:
Phạm Văn H1 là đối tượng thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy. Vào khoảng 15 giờ ngày 20/3/2023, H1 điều khiển xe mô tô BKS 86H4-1245 đi từ nhà thuộc thôn X, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận đến thôn I, xã O, huyện H, tỉnh Bình Thuận để mua ma túy sử dụng. Tại đây, H1 gặp 01 người thanh niên (không rõ lai lịch) mua được 01 gói nilon KT(4,3x2,7)cm được hàn kín, bên trong có chứa ma túy với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H1 để gói ma túy trong túi áo khoác bên phải mà H1 đang mặc và điều khiển xe đi về nhà. Khi H1 về đến thôn Phú Hưng, xã O, huyện H, tỉnh Bình Thuận thì bị lực lượng Công an huyện H kiểm tra phát hiện gói ma túy nên tiến hành bắt quả tang và niêm phong, thu giữ gói ma túy theo quy định.
Tại Bản kết luận giám định số 341/KL-KTHS ngày 27/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận: chất tinh thể màu trắng bên trong gói nilon thu giữ của Phạm Văn H1 có khối lượng 1,0758 gam, là Methamphetamine.
* Về xử lý vật chứng:
- 01 gói nilon KT(4,3x2,7)cm đã được cắt lấy mẫu cùng 1,0460 gam Methamphetamine được hoàn lại sau giám định.
- 01 xe mô tô hiệu Dream BKS 86H4-1245. Quá trình điều tra, xác định được xe mô tô BKS 86H4-1245 là của Phạm Văn M (cha ruột của Phạm Văn H1) cho H1 mượn làm phương tiện đi lại và không biết việc H1 dùng đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô này cho ông Phạm Văn M.
Tại bản cáo trạng số 59/CT-VKSHTN-HS ngày 17/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Phạm Văn H1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Phạm Văn H1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đề nghị xử phạt: Phạm Văn H1 từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.
Vật chứng vụ án:
Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015.
- 01 gói nilon KT(4,3x2,7)cm đã được cắt lấy mẫu và 1,0460 gam Methamphetamine được hoàn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 341 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận. Xét thấy đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Hiện trạng vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 06/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.
Tại phiên tòa bị cáo thống nhất quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không tranh luận gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không tranh luận gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận. Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận. Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy trình của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện điều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn H1 khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 15 giờ ngày 20/3/2023 bị cáo Phạm Văn H1 điều khiển xe mô tô BKS 86H4-1245 đi từ nhà thuộc thôn X, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận đến thôn I, xã O, huyện H, tỉnh Bình Thuận mua 400.000 đồng ma túy của 01 người thanh niên (không rõ lai lịch), người này đưa cho bị cáo 01 gói nilon KT(4,3x2,7)cm được hàn kín, bên trong có chứa ma túy. Bị cáo H1 để gói ma túy trong túi áo khoác bên phải mà H1 đang mặc và điều khiển xe trên đường đi về nhà thì bị lực lượng Công an huyện H kiểm tra phát hiện gói ma túy nên tiến hành bắt quả tang và niêm phong, thu giữ gói ma túy theo quy định.
Tại Bản kết luận giám định số 341/KL-KTHS ngày 27/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận: chất tinh thể màu trắng bên trong gói nilon thu giữ của Phạm Văn H1 có khối lượng 1,0758 gam, là Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo Phạm Văn H1 đã trực tiếp xâm hại đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.
Hành vi của bị cáo Phạm Văn H1 là cố ý, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như nội dung cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bản thân bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là việc làm bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng, thể hiện xem thường pháp luật, cần đưa ra xét xử nghiêm bị cáo, để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời răn đe giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội, góp phần lập lại tình hình trật tự trị an ở địa phương.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như mức độ phạm tội của bị cáo để có mức hình phạt thích hợp tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải, gia đình khó khăn có xác nhận chính quyền địa phương, có bà nội được phong danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hung, 02 người bác là liệt sĩ, 01 người bác là thương binh. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nên cần áp dụng cho bị cáo.
Vật chứng của vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu Dream BKS 86H4-1245. Quá trình điều tra, xác định được xe mô tô BKS 86H4-1245 là của Phạm Văn M (cha ruột của Phạm Văn H1) cho H1 mượn làm phương tiện đi lại và không biết việc H1 dùng đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô này cho ông Phạm Văn M. Xét thấy đã xử lý xong.
- 01 gói nilon không màu đã được cắt lấy mẫu và 1,0460 gam Methamphetamine được hoàn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 341 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận. Xét thấy đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Hiện trạng vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 06/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
TUYÊN BỐ: Phạm Văn H1, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
XỬ PHẠT: Phạm Văn H1 01(Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành và được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam là từ ngày 20/3/2023 đến ngày 17/5/2023.
ÁP DỤNG: Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: - 01 gói nilon không màu đã được cắt lấy mẫu và 1,0460 gam Methamphetamine được hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 341 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận. Hiện trạng vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 06/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.
Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Văn H1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/6/2023).
| Nơi nhận: - Như Điều 262 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM. THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Xô |