- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN N PHẠM TỘI "TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2023/HSST Ngày 22 - 8 -2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đông.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quốc Phòng và ông Nguyễn Văn Hoằng.
-Thưkýphiêntòa: BàNguyễnKhánhVy- ThưkýTòaánnhândânthịxãDuyTiên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Hoa- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2023 đối với:
- Bị cáo Nguyễn Văn N (tên gọi khác: Không), sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường G, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1948 và bà Dương Thị X, sinh năm 1949; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 01/11/2009, Công an huyện D (nay là thị xã D), tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh người khác bị thương” với số tiền là 1.200.000đ; Bị tạm giữ từ ngày 20/05/2023 chuyển tạm giam ngày 26/05/2023 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.
* Người chứng kiến: Ông Hoàng Văn D1, sinh năm 1976; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 20/5/2023 tại tổ dân phố C, phường G, thị xã D, tỉnh Hà Nam, tổ công tác Công an phường G, thị xã D tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn phường G. Quá trình tuần tra phát hiện một người nam giới đi bộ, có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã yêu cầu dừng lại và kiểm tra, người đàn ông này tự khai báo tên là Nguyễn Văn N, sinh năm 1976, nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường G, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Tổ công tác phát hiện Nguyễn Văn N đang có hành vi cất giấu 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục, bột trong túi quần phía trước bên trái đang mặc (Nguyễn Văn N khai là ma túy, loại Heroin) mua về để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác đã tiến hành bắt giữ N đồng thời tiến hành thu giữ, niêm phong các vật chứng và lập biên bản theo quy định.
* Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilon màu trắng bề mặt có in dòng chữ “Bơm tiêm sử dụng một lần” bên trong có: 01 gói nhỏ giấy bạc màu vàng, kích thước khoảng (1,4x1,2) cm bên trong gói giấy bạc có chứa chất màu trắng dạng cục, bột được niêm phong trong phong bì dán kín, ký hiệu QT01; 01 chiếc xi lanh chưa qua sử dụng; 01 lọ nước cất có in dòng chữ nước cất tiêm 0,5ml, bằng thủy tinh.
* Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn N tại tổ dân phố C, phường G, thị xã D: Không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại bản kết luận giám định số 269/KL-KTHS ngày 24/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,208 gram, loại Heroin”.
Về nguồn gốc ma túy: Nguyễn Văn N khai báo, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 09 giờ 30 phút ngày 20/5/2023, N đi bộ một mình từ nhà ở tổ dân phố C, phường G, thị xã D, tỉnh Hà Nam ra đường liên thôn thuộc tổ dân phố C, phường G, thị xã D mục đích để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi được khoảng 300 mét thì N gặp một nam thanh niên (N không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này là gì, ở đâu). Do đã từng mua ma túy của nam thanh niên đó nên khi gặp nhau, N đã hỏi mua của người thanh niên này 50.000 đồng tiền ma túy (loại Heroin). Người thanh niên đó đồng ý. Lúc này N lấy trong người ra số tiền 50.000 đồng đưa cho người thanh niên trên, người thanh niên cầm tiền và đưa lại cho N 01 túi nilon màu trắng (loại túi đựng bơm tiêm) bên trong có 01 gói nhỏ bọc bằng giấy bạc màu vàng có chứa ma túy Heroin, 01 bơm tiêm và 01 lọ nước cất còn nguyên chưa qua sử dụng. N cầm, cất túi nilon và các đồ vật trên vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc và đi bộ về nhà mục đích để sử dụng. Trên đường đi về thì N bị Tổ công tác Công an phường G yêu cầu dừng lại để kiểm tra đã phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.
Về nguồn gốc số tiền 50.000 đồng Nguyễn Văn N sử dụng để mua ma túy: quá trình điều tra N khai nhận đây là số tiền bản thân do lao động mà có.
Cáo trạng số 59/CT-VKS- DT ngày 04/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Nguyễn Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Nguyễn Văn N mức án từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về xử lý vật chứng và án phí của vụ án.
Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh, tính chất mức độ tội phạm: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 20/5/2023, tại đường liên thôn thuộc tổ dân phố C, phường G, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Văn N đang có hành vi cất giữ trái phép 01 gói ma tuý loại Heroine, có khối lượng 0,208 gam để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an phường G, thị xã D phát hiện lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ các vật chứng liên quan.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn N đã gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu trật tự trị an tại địa phương. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã D đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật như trên là hoàn toàn có căn cứ pháp lý, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân xấu nhưng không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Xét hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo gây ra cho xã hội là nghiêm trọng, bản thân bị cáo có nhân thân xấu nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và tác dụng phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy: Nguyễn Văn N khai nhận số ma túy bị thu giữ do bị cáo mua của một người nam thanh niên không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thị xã D không xác định được người bán ma túy cho N nên không có căn cứ điều tra xử lý đối với người này là đúng pháp luật.
Về xử lý vật chứng vụ án:
Đối với 01 phong bì niêm phong có số 269/KTHS là mẫu vật hoàn trả sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam thuộc vật cấm lưu hành nên HĐXX cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xi lanh và 01 lọ nước cất là vật chứng liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu huỷ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định
Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2023.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong có số 269/KTHS, 01(Một) chiếc xi lanh và 01(Một) lọ nước cất.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã D và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D ngày 06 tháng 7 năm 2023).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000(Hai trăm ngàn) đồng.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên; - VKSND thị xã Duy Tiên; - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên; - Cơ quan THAHS Công an tx Duy Tiên; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Đông |