- Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án hs về tội vi phạm quy định về tham gia gt đường bộ dv Phạm Quốc Th - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2023/HSST Ngày: 08/6/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Phương Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ ông Trần Đức Hòa;
2/ bà Lê Thị Thận
- Thư ký phiên tòa: ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: ông Hoàng Văn Đàm - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2023/HSST ngày 12 tháng 4 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2023/QĐXXST – HS ngày 20 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:
Phạm Quốc Th, sinh năm 1981 tại tỉnh Long An
Căn cước công dân số: 080081004697 cấp ngày 20/01/2022 Nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC&TTXH Bộ Công an.
Nơi cư trú: Bon K (Thôn 2), xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông.
Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Bé N và bà Nguyễn Thị Ng; Vợ: Phạm Thị Kim L và 01 người con sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Người đại diện theo pháp luật của bị hại:
1. Bà Lê Thị B, sinh năm 1959
Nơi cư trú: thôn 5, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
2. Ông Trương Văn Ch, sinh năm 19
Nơi cư trú: thôn 5, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Lành H
Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Kim H, sinh năm 1966
Địa chỉ: Thôn 5, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Quốc Th có giấy phép lái xe ôtô hạng A1, D số 790117229583 do Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/4/2018. Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 13/11/2022, Phạm Quốc Th không sử dụng rượu bia, ma túy hay chất kích thích khác điều khiển xe ôtô biển số: 93A-007.27 lưu thông trên đường quốc lộ 14 hướng từ thành phố Đ đi tỉnh Đăk Nông. Khi đến Km 924+200 thuộc thôn 5, xã Đ, huyện B, thì Phạm Quốc Th điều khiển cho xe chuyển hướng qua bên trái đường theo chiều đi của mình để đi vào cổng Công ty TNHH Lành H. Khi Phạm Quốc Th đang chuyển hướng xe ô tô thì phần bên phải xe ôtô va chạm với môtô biển số: 93L1-307.08 do anh Trương Văn Tư điều khiển đi bên phải đường hướng từ tỉnh Đăk Nông đi thành phố Đ (ngược chiều với xe Phạm Quốc Th điều khiển) gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả anh Trương Văn T tử vong tại Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 17/11/2022
Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 402 ngày 04/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: Nạn nhân Trương Văn T bị đa chấn thương, gãy xương, xuất huyết nội sọ, phù não, hôn mê sâu không hồi phục dẫn đến tử vong.
- Về vật chứng vụ án, Cơ quan CSĐT - Công an huyện B đã ra quyết định xử lý:
+ Xe ôtô biển số: 93A-007.27 trả lại cho Công ty TNHH Lành H.
+ Xe môtô biển số: 93L1-307.08 trả lại cho gia đình anh Trương Văn T.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và chủ xe ôtô là bà Trần Thị Kim H bồi thường với số tiền 250.000.000 đồng. Đại diện gia đình người bị hại đã làm đơn bãi nại.
Tại Cáo trạng số 51/CT – VKS ngày 07/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Phạm Quốc Th về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Quốc Th phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về hình phạt đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Quốc Th từ 12 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo
Hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng
Bị cáo Phạm Quốc Th thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.
Đại diện theo pháp luật của người bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng đại diện bị hại đã có đơn bãi nại, không có yêu cầu gì về mặt dân sự và đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự với bị cáo.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 13/11/2022, Phạm Quốc Th có giấy phép lái xe ôtô theo quy định và không sử rượu, bia, ma tuý hoặc chất kích thích khác trực tiếp điều khiển xe ôtô biển số 93A-007.27 chuyển hướng qua bên trái đường không đảm bảo an toàn, gây tai nạn giao thông với xe môtô biển số: 93L1-307.08 do anh Trương Văn T điều khiển làm anh Trương Văn T tử vong.
Điều 15. Luật giao thông đường bộ, quy định:
“2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác”.
Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Quốc Th đã vi phạm vào khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ.
Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc gây thiệt hại cho người khác một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Việc Phạm Quốc Th chuyển hướng xe ôtô qua bên trái đường không đảm bảo an toàn dẫn đến hậu quả anh Trương Văn T bị tử vong nên có đủ căn cứ xác định bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đ, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng do ý thức chấp hành giao thông kém, chủ quan, cẩu thả nên đã vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, gây hậu quả rất nghiêm trọng, khiến anh Trương Văn T tử vong, gây đau thương, mất mát lớn cho gia đình bị hại.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình cùng với bị đơn dân sự đã bồi thường khắc phục hậu quả theo yêu cầu của đại diện gia đình người bị hại; Đại diện theo pháp luật của người bị hại làm đơn bãi nại và đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Bị cáo Phạm Quốc Th có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Mặt khác, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo là phù hợp với mục đích của hình phạt, phù hợp với quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Tuy nhiên, xét thấy hành vi của bị cáo là lỗi vô ý. Nhằm tạo điều kiện cho bị cáo làm việc để khắc phục hậu quả, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung cấm lái xe ô tô đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Xe ôtô biển số: 93A-007.27 và xe môtô biển số: 93L1-307.08 quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện B, tỉnh Bình Phước đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp (Công ty TNHH Lành Hưởng và gia đình anh Trương Văn T) là phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự nên không xem xét giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình giải quyết vụ án đại diện hợp pháp của người bị hại thừa nhận đã được nhận tiền bồi thường là 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng), đã làm đơn bãi nại và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị đơn dân sự không có yêu cầu giải quyết về số tiền bồi thường, về bồi thường thiệt hại về chiếc xe ô tô nên không xem xét giải quyết.
Về các vấn đề khác:
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc Th phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Quốc Th 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/6/2023).
Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Quốc Th.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Quốc Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện theo pháp luật của người bị hại, bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại địa phương, nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - Viện kiểm sát ND tỉnh Bình Phước. - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước; - Công an tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện B; - CCTHADS huyện B; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Trần Thị Phương Hạnh |