vanban.org

Bản án 63/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Tuyên án 19/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 0,41 (Không phảy bốn mươi mốt) gam Heroine còn lại sau giám định cùng 01 (một) mảnh lá cây màu xanh, 01 (một) mảnh nilon màu hồng và bì niêm phong ban đầu gửi giám định. Tại các mép dán của bì niêm phong có chữ ký ghi rõ họ tên của: Đặng Minh Đổng, Trần Xuân Hiệu, Nông Văn Nghiệp, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tống tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2023/HSST
Ngày 19 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Đình Đông

2. Ông Tẩn Láo San

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Lý – Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Nghiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2023 tại Nhà văn hóa, thôn Mường Hum, xã Mường Hum, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/HSST-QĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Vàng A , tên gọi khác: Không; sinh ngày 02 tháng 05 năm 1979 tại huyện B, tỉnh Lào Cai. Nơi ĐKNKTT và nơi ở: thôn D, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng A Sử và bà Lầu Thị Say (tên gọi khác Lầu Thị Xay). Bị cáo có vợ là Vừ Thị Ché bị cáo có 04 con lớn nhất sinh năm 2000 nhỏ nhất sinh năm 2010. Tiền án: có 01 Tại bản án số: 36/2020/HS- ST ngày 23/09/2020 của Tòa án nhân dân huyện B xử phạt Vàng A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đến ngày 12/11/2021 Vàng A chấp hành xong hình phạt tù tính đến ngày phạm tội Vàng A chưa được xóa án tích; tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 06/2018/QĐ- TA ngày 25/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện B bị cáo đi cai nghiện bắt buộc 12 tháng, đến ngày 25/10/2018 chấp hành xong, đến nay đã được xóa tiền sự. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/08/2023, tạm giam từ ngày 01/09/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai “Có mặt tại phiên tòa”.

Người bào chữa cho các bị cáo Vàng A là Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - sinh năm 1986 Là trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai (Có mặt tại phiên tòa).

- Người chứng kiến:

Anh Giàng A – sinh năm 1989 Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai (vắng mặt).

Anh Sùng T – sinh năm 1994 Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 50 phút ngày 29/08/2023, tổ công tác công an xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai đang làm nhiệm vụ tại Thôn P, xã T phát hiện Vàng A có biểu hiện nghi vấn về tội phạm nên tiến hành kiểm tra và thu giữ trong lòng bàn tay trái của Vàng A 01 (Một) gói được gói bằng lá cây màu xanh, trong là gói nilon màu hồng chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục. Vàng A khai nhận là Heroine vừa mua được của người phụ nữ không quen biết với giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng) để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.

Về nguồn gốc ma túy Vàng A khai nhận: Khoảng 07 giờ ngày 29/08/2023 Vàng A đang ở nhà nảy sinh ý định đi mua ma túy về sử dụng, Vàng A cầm theo 100.000đồng (Một trăm nghìn đồng) đi bộ một mình đến xã Dền Sáng để tìm mua ma túy, khi đi đến khu vực thôn Trung Chải, xã Dền Sáng gặp một người phụ nữ không quen biết hỏi mua được 01 (một) gói hêrôin được gói ngoài bằng lá cây màu xanh, trong là lớp nilon màu hồng chứa chất bột khô, màu trắng,vón cục. Sau khi mua được số ma túy Vàng A cầm gói ma túy ở tay trái và đi về nhà, đi đến khu vực Thôn P, xã T, huyện B thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật.

Vụ án được chuyển cho Cơ quan cảnh sát điểu tra Công an huyện B để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định ngày 29/08/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai xác định: 01 (Một) gói từ ngoài vào trong của gói lần lượt là lớp lá cây màu xanh, lớp nilon màu hồng, trong cùng là chất bột khô, màu trắng, vón cục. Có khối lượng 0,51 (không phẩy năm mươi mốt) gam; trích 0,10 (không phẩy mười) gam để giám định, hoàn lại Cơ quan trưng cầu 0,41 (không phẩy bốn mươi mốt) gam.

Tại bản kết luận giám định số 291/KL- GĐMT ngày 01/09/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã kết luận: 0,51 (không phẩy năm mươi mốt) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Vàng A ngày 29/08/2023 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B gửi đến giám định là loại chất ma túy Heroine.

Cáo trạng số 57/CT- VKS ngày 19/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố bị cáo Vàng A về tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện B đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Vàng A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Vàng A với mức án từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng đến 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a,c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,41 (không phẩy bốn mươi mốt) gam ma tuý Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng 01 (một) mảnh lá cây màu xanh, 01 (một) mảnh nilon màu hồng và bì niêm phong ban đầu gửi giám định.

Về án phí: Bị cáo Vàng A có giấy chứng nhận thuộc hộ nghèo, cận nghèo của UBND xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai và có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa người bào chữa trình bày lời bào chữa đối với bị cáo Vàng A . Đề nghị Hội đồng xét xét xử căn cứ và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất vì bị cáo là người dân tộc thiểu số hạn chế về nhận thức. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Vàng A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” xử phạt bị cáo với mức án từ 01 (một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo Vàng A thuộc hộ nghèo có giấy chứng nhận của UBND xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai và có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Người bào chữa đề nghị HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tống tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, tang vật thu giữ và kết luận giám định. Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 29/08/2023, Vàng A đang ở nhà nảy sinh ý định đi mua ma túy về để sử dụng cho bản thân, Vàng A mang theo 100.000đồng đi bộ đến xã Dền Sáng gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết được 01 (một) gói Heroine được gói ngoài bằng lá cây màu xanh, trong là lớp nilon màu hồng chứa chất bột khô, màu trắng,vón cục. Sau khi mua được số ma túy Vàng A cầm gói ma túy ở tay trái và đi về nhà, đi đến khu vực Thôn P, xã T, huyện B thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Vàng A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, bị cáo biết việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng ngày 29/08/2023 bị cáo đã mua 0,51 (Không phẩy năm mươi mốt) gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân.Vì vậy, cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xoá án tích lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Nhân thân bị cáo là người có nhân thân xấu thường xuyên sử dụng chất ma túy là đối tượng nghiện. Tại Quyết định số 06/2018/QĐ- TA ngày 12/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn là 12 tháng, ngày 25/10/2018 Vàng A chấp hành xong trở về địa phương đến nay chưa được xóa tiền sự.

Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Vàng A . Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Vàng A mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy mức án đề nghị của người bào chữa thấp không phù hợp với nhân thân và hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy HĐXX không chấp nhận mức đề nghị của người vào chữa.

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Vàng A ngày 29/08/2023, Vàng A không biết họ tên, tuổi, địa chỉ, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu khác để chứng minh nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện B không điều tra làm rõ được, khi nào xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là phù hợp.

Về vật chứng vụ án: Sau giám định số vật chứng còn lại 0,41 (Không phẩy bốn mươi mốt) gam Heroine và cùng 01 (Một) mảnh lá cây màu xanh, 01 (một) mảnh nilon màu hồng và bì niêm phong ban đầu gửi giám định. Xét đây là vật nhà nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng cần tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Vàng A có giấy chứng nhận hộ nghèo của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai và bị cáo có đơn xin miễn án phí. Vì vậy bị cáo Vàng A được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng A 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 29/08/2023.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 0,41 (Không phảy bốn mươi mốt) gam Heroine còn lại sau giám định cùng 01 (một) mảnh lá cây màu xanh, 01 (một) mảnh nilon màu hồng và bì niêm phong ban đầu gửi giám định. Tại các mép dán của bì niêm phong có chữ ký ghi rõ họ tên của: Đặng Minh Đổng, Trần Xuân Hiệu, Nông Văn Nghiệp, 01 (một) dấu điểm chỉ ghi “ Điểm chỉ ngón trỏ phải của Vàng A ” ; hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Lào Cai và được dán phủ lớp băng dính trong suốt. Trên một mặt bì niêm phong này có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang của Vàng A tại Thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai ngày 29/08/2023”.

( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/10/2023 giữa Công an huyện B và Chi cục thi hành án huyện B).

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo Vàng A được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ