vanban.org

Bản án 63/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện An phú, tỉnh An Giang Tuyên án 17/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng A phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Trương Hoàng A 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án 17/8/2023. Giao bị cáo Trương Hoàng A cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện A, tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "T phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng A phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 63/2023/HSST
Ngày 17/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Mai Việt Quốc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Tấn Phước;

2. Ông Trương Văn Hăng.

Thư ký phiên toà: Bà Trần Đỗ Ngọc Mai Thy – Thư ký Toà án nhân dân huyện A, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, Tòa án nhân dân huyện A đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 54/2023/HSST ngày 20/7/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Trương Hoàng A, sinh năm 1993; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; Học lực: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Cha: Trương Văn C, sinh năm: 1963; Mẹ: Nguyễn Thị Bích T, sinh năm: 1965. Anh, em ruột có 04 người, bị cáo là người thứ ba.

Tiền án: Chưa

Tiền sự: Ngày 05/11/2021, bị Công an huyện A, tỉnh An Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, với số tiền 1.500.000 đồng (chưa nộp phạt).

Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/4/2023 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia phiên tòa:

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn Chí A, sinh năm: 2004; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

2. Trịnh Tấn Đ, sinh ngày: 15/11/2005; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang. (váng mặt)

Giám hộ cho Trịnh Tấn Đ là ông Trịnh Văn P, sinh năm: 1971 (cha ruột của Đ) nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

3. Huỳnh Văn B, sinh năm: 2000; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 06/11/2022, Nguyễn Chí A mang gà tre màu đỏ - xanh đá với gà tre màu đỏ của Trịnh Tấn Đ tại bãi đất trống thuộc ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang. Cả 02 thỏa thuận cược số tiền 300.000 đồng và 01 thùng bia, đá xong bắt xác gà để nhậu chung.

Lúc này, Đ kêu Trương Hoàng A băng cựa gà của Đ. Sau khi băng cựa, Hoàng A ôm gà của Đ thả đá với gà của Chí A. Huỳnh Văn B đá cược với Chí A số tiền 100.000 đồng; Hoàng A đá cược với Bạn số tiền 100.000 đồng.

Trong lúc gà đang đá, Công an xã P đến bắt quả tang Hoàng A riêng các đối tượng khác chạy thoát. Thu giữ tiền trên người Hoàng A số tiền 1.899.000 đồng và các tang vật có liên quan.

Quá trình điều tra, được biết ngày 05/11/2021, Trương Hoàng A đã bị Công an huyện A, tỉnh An Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” (chưa nộp phạt).

Ngày 16/4/2023, Trương Hoàng A bị khởi tố điều tra.

Vật chứng vụ án:

- 04 (bốn) cây cựa bằng kim loại (đã qua sử dụng);

- Tiền Việt Nam: 2.299.000 đồng (thu giữ của Hoàng A 1.899.000 đồng; Chí A giao nộp 400.000 đồng).

Tại bản Cáo trạng số 52/CT-VKSAP-HS ngày 12/7/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện A đã truy tố Trương Hoàng A về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội:

Giữ nguyên quyết định truy tố, sau khi đánh giá tính chất vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Đề nghị xử phạt tiền đối với bị cáo A số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng họ đã có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Xét việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.

Căn cứ các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng những người nêu trên.

Xét hành vi của các bị cáo: Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, từ đó đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Trương Hoàng A đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc vào ngày 05/11/2021, bị cáo chưa nộp phạt. Ngày 06/11/2022 bị cáo giúp sức cho người khác đánh bạc trái phép dưới hình thức đá gà ăn thuaa bằng tiền và có hành vi tham gia đánh bạc với tổng số tiền 100.000 đồng.

Bị cáo A có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật. Bị cáo muốn có tiền tiêu xài một cách nhanh nhất, không muốn lao động vất vả nên tham gia vào tệ nạn xã hội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Từ những phân tích nêu trên, có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Trương Hoàng A về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tuy nhiên, mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị hình phạt chính là phạt tiền. Qua nghị án, Hội đồng xet xử nhận thấy hình phát chính là phạt tiền chưa đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nhưng cho hưởng án treo để bị cáo có thời gian thử thách, không phạm tội khác.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh gia đình khó khăn đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Về xử lý vật chứng:

- 04 (bốn) cây cựa bằng kim loại (đã qua sử dụng); Đây là công cụ dùng để đánh bạc, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

- Tiền Việt Nam: 2.299.000 đồng (thu giữ của Hoàng A 1.899.000 đồng; Chí A giao nộp 400.000 đồng).

Đối với số tiền 1.899.000 đồng, bị cáo dùng 100.000 đồng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền này. Số tiền còn lại 1.799.000 đồng không liên quan đến hành vi đánh bạc nên trả lại cho bị cáo.

Đối với số tiền 400.000 Chí A giao nộp, Chí A dùng số tiền này để đánh bạc nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không thuộc hộ nghèo nên cần áp dung hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Căn cứ các Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 292, Điều 293, Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng A phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Trương Hoàng A 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án 17/8/2023.

Giao bị cáo Trương Hoàng A cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện A, tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1, Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự 2015.

Hình phạt bồ sung: Buộc bị cáo Trương Hoàng A nộp 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 04 (bốn) cây cựa bằng kim loại (đã qua sử dụng).

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/7/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A và Chi cục Thi hành án dân sự huyện A;).

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).

- Trả lại cho bị cáo Trương Hoàn A số tiền 1.799.000đ (Một triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn đồng).

(Theo biên lai thu số 0004646 ngày 18/7/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện A, người nộp tiền Nguyễn Văn Ty).

Về án phí: Bị cáo Trương Hoàng A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/8/2023), bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ