- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2023/HS-ST Ngày: 11 – 04 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nguyên Vũ
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thái Minh Trí
2. Bà Trần Thanh Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngọc Thị Ngoan - Thư ký tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Đinh Tuấn Anh - Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 04 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 03 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1988, tại tỉnh H; Nơi cư trú: Xóm 4, xã P, huyện K, tỉnh H; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1960 và bà Đỗ Thị C, sinh năm 1963; có vợ Nguyễn Thị N, sinh năm 1997 và 02 con (lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022; tiền án; tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 29/3/2017, bị TAND thị xã B, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 06 tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng, về tội: “trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 08/5/2018; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10/11/2022, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diển biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Mạnh T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 22 giờ ngày 09/11/2022, T gặp K (không rõ nhân thân) mua 02 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Đến 03 giờ ngày 10/11/2022, T mang 02 gói ma túy và đến nhà nghỉ Minh Hoàng thuộc khu phố M, thị trấn H1, huyện N, tỉnh Đồng Nai để sử dụng nhưng chưa kịp sử sụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.
Vật chứng, tài sản thu giữ: 01 điện thoại di động Vivo màu đỏ là tài sản cá nhân của Nguyễn Mạnh T không liên quan đến việc phạm tội; 02 gói nylon kích thước 4cm x 4cm và 3,5cm x 4cm hàn kín hai đầu bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng (đã được niêm phong)
Tại Kết luận giám định số 2405/KL-KTHS ngày 16/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: “Mẫu tinh thể trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,5762gam, loại Methamphetamine….”
Tại bản cáo trạng số: 32/CT.VKS-NT ngày 21/02/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù;
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 0,5376 gam ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,5376 gam, loại Methamphetamine, được niêm phong số 2405/KL-KTHS có chữ ký ghi tên Phan Đình H2 và dấu tròn màu đỏ Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; Trả lại cho Nguyễn Mạnh T 01 điện thoại đi động hiệu Vivo màu đỏ do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Mạnh T không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo Nguyễn Mạnh T (sinh ngày 12/02/1988) có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thừa nhận: khoảng 22 giờ 00 phút ngày 09/11/2022, T gặp K (không rõ nhân thân) mua 02 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Đến 03 giờ ngày 10/11/2022, T mang 02 gói ma túy và đến nhà nghỉ Minh Hoàng thuộc khu phố M, thị trấn H1, huyện N, tỉnh Đồng Nai để sử dụng cùng với Bùi Quốc B nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 2405/KL-KTHS ngày 16/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: “Mẫu tinh thể trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,5762gam, loại Methamphetamine….”
Lời thừa nhận của bị cáo Nguyễn Mạnh T phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Cho thấy lượng ma túy bị cáo Nguyễn Mạnh T tàng trữ, theo Kết luận giám định số: 2405/KL-KTHS ngày 16/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, có khối lượng: 0,5762 gam, loại Methamphetamine (khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam) và hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Mạnh T đã được thực hiện xong.
Nên có đủ căn cứ kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Mạnh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh T là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân từng bị xét xử về tội “trộm cắp tài sản: đã được xóa án tich.
Tội phạm do bị cáo Nguyễn Mạnh T thực hiện là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo biết rõ việc tàng trữ để sử dụng chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì nghiện ma túy nên bị cáo vẫn thực hiện. Do đó cần thiết áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Mạnh T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có con nhỏ, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1; 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của chính sách pháp luật hình sự.
Xét lời luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt là phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
. Về xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đỏ không liên quan gì đến vụ án không phải là công cụ phương tiện phạm tội, trả lại cho bị cáo là thỏa đáng.
- Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định có khối lượng: 0,5376 gam (đã được niêm phong số 2405/KL-KTHS có chữ ký ghi tên Phan Đình H2 và dấu tròn màu đỏ Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai), Nguyễn Mạnh T đã tàng trữ trái phép, cần tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.
Đối với tên K đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau là đúng pháp luật.
Đối với Bùi Quốc B không biết việc T cất giấu ma túy nhằm mục đích sử dụng nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là thỏa đáng.
. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Mạnh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính tù ngày 10/11/2022.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch 0,5376 gam ma túy loại Methamphetamine (đã được niêm phong số 2405/KL-KTHS có chữ ký ghi tên Phan Đình H2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai) tiêu hủy.
- Trả 01 điện thoại di động Vivo màu đỏ cho bị cáo Nguyễn Mạnh T.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận - TA tỉnh - VKS, THA, CA - Bị cáo; - Lưu HS, VP | Trần Nguyên Vũ |