- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn H tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2023/HS-ST Ngày: 18 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Ích;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Đức Chạc
2. Bà Dương Thị Vui
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Thế Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn H. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh năm: 1987. Nơi sinh: Nam Định. Nơi ĐKTT: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12. Đoàn, Đảng: Không; Con ông: Bùi Văn T, sinh năm 1965 (Đã chết); Con bà: Bùi Thị G, sinh năm 1964, hiện đang ở Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai. Chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Bùi Văn H bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 30/5/2023 đến ngày 02/6/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N cho đến nay
Người chứng kiến: Ông Trần Hữu T1, sinh năm 1949.
Tại phiên tòa có mặt bị cáo; vắng mặt người chứng kiến.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ ngày 30/5/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Bùi Văn H, sinh năm 1987, ở Xóm G, N, N, nhờ xe người đi đường đến khu vực chợ T2 thuộc xã T, T, mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 gói Heroine, vỏ giấy màu xanh, với giá 500.000 đồng. Khi H đi đến khu vực đường dong thuộc Xóm A, N, N để tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện N phát hiện bắt quả tang vào khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày. Thu giữ ở lòng bàn tay trái của H 01 gói nhỏ, vỏ là giấy màu xanh, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu M), H khai nhận là H1 cất giấu để sử dụng. Tổ công tác đã dẫn giải Bùi Văn H về Công an xã N để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Quá trình điều tra, Bùi Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. (Bút lục số: 5-6, 8-9, 16-17, 41-55)
Tại bản kết luận giám định số 797/KL-KTHS ngày 01/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói nhỏ, vỏ giấy màu xanh, trong phong bì thư được niêm phong kí hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine (H). Khối lượng mẫu M: 0,267 gam.
Bản cáo trạng số 60/CT-VKSNH ngày 23 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như tội danh và điều luật đã nêu; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Bùi Văn H từ 15 tháng tù đến 19 tháng tù. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng; Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Tại phiên toà hôm nay qua xét hỏi và tranh luận bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người chứng kiến không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Bùi Văn H tại phiên tòa hôm nay, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu đã được xác lập có trong hồ sơ vụ án cũng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay. Như vậy đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại khu vực đường dong thuộc Xóm A, N, N, tổ công tác Công an huyện N phát hiện bắt quả tang Bùi Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,267 gam Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của Bùi Văn H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn hoá của dân tộc. Bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai, lên án xử lý nghiêm minh là cần thiết nhằm góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn kỷ cương tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà, bị cáo Bùi Văn Hoàng thành k khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bố bị cáo chết, gia đình có 03 chị, em, C và em gái lấy chồng ở xa, bị cáo chưa có gia đình đang ở với mẹ đẻ nhưng mẹ đẻ lại bị bệnh tâm thần có xác nhận của chính quyền vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về mức án đối với bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn hoá của dân tộc. Xét nhân thân, mức độ phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tập trung cải tạo đối với bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà cho thấy gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không sở hữu tài sản có giá trị. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối người đàn ông bán ma túy cho Bùi Văn H ngày 30/5/2023 hiện không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Nên không có căn cứ xác minh xử lý là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong số 797/KL-KTHS ngày 01 tháng 6 năm 2023 của phòng K Công an tỉnh N hoàn trả sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Bùi Văn H phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào các Điều 106; Điều135; Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2023.
3. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 797/KL-KTHS ngày 01 tháng 6 năm 2023 của phòng K Công an tỉnh N hoàn trả sau giám định.
Toàn bộ vật chứng của vụ án đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 31 tháng 8 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Văn H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo. Báo cho người có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Nghĩa Hưng; - UBND xã Nghĩa Minh; - Cơ quan Thi hành án; - Án văn + lưu hồ sơ; | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trần Trọng Ích |