- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng Văn Phọn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tòng Văn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2023/HS-ST Ngày 30 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Khoàng Văn Sơn
2. Ông Hồ Chử Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Tố Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2023 tại phòng xét xử tầng 1, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2023/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Tòng Văn P sinh ngày 20 tháng 10 năm 1971 tại xã Mường Báng, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản Tiên Phong, xã Mường Báng, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hoá: 2/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tòng Văn Đ sinh năm 1945 và con bà Quàng Thị S sinh năm 1945; Bị cáo Tòng Văn P có vợ Lò Thị Thiên sinh năm 1974; Có 02 con, con lớn nhất 30 tuổi, con nhỏ nhất 28 tuổi. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Chưa bị Tòa án kết tội lần nào. Bị cáo Tòng Văn P bắt tạm giữ từ ngày 08 tháng 4 năm 2023 đến ngày 17 tháng 4 năm 2023, tạm giam từ ngày 17 tháng 4 năm 2023 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 08 tháng 4 năm 2023 bị cáo Tòng Văn P đi bộ từ lán công trình ra bản Nà Hỳ 3, xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ để tìm mua ma túy để sử dụng. Khi bị cáo Tòng Văn P đi đến khe suối thì gặp một người phụ nữ không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Bị cáo Tòng Văn P đã mua được của bà ta 02 (hai) gói nhỏ Heroine với số tiền là 100.000 đồng, mua bán xong người phụ nữ đó đi đâu bị cáo không biết còn bị cáo Tòng Văn P cầm số ma túy trên tay mang về lán công trình. Mục đích mua để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 08 tháng 4 năm 2023 thì bị tổ công tác Công an huyện Nậm Pồ và Đồn biên phòng Nà Hỳ phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án và đưa về Công an huyện Nậm Pồ để làm rõ.
Ngày 09 tháng 4 năm 2023 Công an huyện Nậm Pồ cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, khối lượng Heroine thu giữ của Tòng Văn P gói số 01 là 0,15 gam do ít nên toàn bộ gửi giám định; khối lượng Heroine thu giữ của Tòng Văn P gói số 02 là 0,08 gam do ít nên toàn bộ gửi giám định.
Bản kết luận giám định số: 631/KL-KTHS ngày 17 tháng 4 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng khối lượng 0,23 gam gửi giám định của Tòng Văn P là chất ma túy, loại Heroine. Tổng khối lượng 0,23 gam thu được của Tòng Văn Phọn là Heroine.
Bản cáo trạng số: 35/CT-VKS-NP ngày 13 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ đã truy tố Tòng Văn P để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Tòng Văn P từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo. Áp dụng Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH. Buộc bị cáo Tòng Văn Phọn phải chịu án phí theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với nội dung truy tố trong Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Tòng Văn P nhất trí và không có ý kiến bổ sung; không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi phạm tội bị cáo thấy: Lời khai nhận tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 08 tháng 4 năm 2023 bị cáo Tòng Văn P đi bộ từ lán công trình ra bản Nà Hỳ 3, xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ để tìm mua ma túy để sử dụng. Khi bị cáo Tòng Văn P đi đến khe suối thì gặp một người phụ nữ không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Bị cáo Tòng Văn P đã mua được của bà ta 02 (hai) gói nhỏ Heroine với số tiền là 100.000 đồng, mua bán xong người nữ đó đi đâu bị cáo không biết còn bị cáo Tòng Văn P cầm số ma túy trên tay mang về lán công trình. Mục đích mua để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 08 tháng 4 năm 2023 thì bị tổ công tác Công an huyện Nậm Pồ và Đồn biên phòng Nà Hỳ phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án. Do đó HĐXX có đủ căn cứ kết luận bị cáo Tòng Văn P đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 BLHS.
Việc VKSND huyện Nậm Pồ truy tố bị cáo Tòng Văn P về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật, bị cáo không bị oan sai.
Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội bị cáo thấy: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử lý bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo thấy: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Chưa bị Tòa án kết tội lần nào.
Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có bố đẻ là ông Tòng Văn Đĩnh được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo Tòng Văn Phọn không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.
Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Tòng Văn P từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xem xét xử phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế
- xã hội khó khăn và không có khả năng thi hành. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát, về việc không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người phụ nữ bán Heroine cho bị cáo; do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu do đó không có cơ sở để xử lý trong vụ án.
Về xử lý vật chứng: Do khối lượng Heroine ít đã trích hết để làm mẫu vật giám định nên không còn mẫu vật. HĐXX xét thấy có căn cứ nên cần chấp nhận về việc không còn mẫu vật Heroine nhưng đã có kết luận giám định.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016; án phí và lệ phí Tòa án: HĐXX xét thấy bị cáo Tòng Văn P buộc phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát; Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không khiếu nại hoặc ý kiến gì. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 331, Điều 333 BLTTHS; Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016; án phí và lệ phí Tòa án.
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tòng Văn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tòng Văn P: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 08 tháng 4 năm 2023.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Tòng Văn P phải chịu số tiền là 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo Tòng Văn P có quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 30 tháng 6 năm 2023).
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA Tòa án tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Nậm Pồ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - CQĐT, NTG Công an huyện Nậm Pồ; - Cơ quan THAHS Công an huyện Nậm Pồ; - Bộ phận hồ sơ Công an huyện Nậm Pồ; - Bị cáo; - Chi cục THADS huyện Nậm Pồ; - Phòng Hành chính Sở Tư pháp; - Lưu HS, HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Bách |