vanban.org

Bản án 63/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường La, tỉnh Sơn La Tuyên án 27/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo QVQ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo QVQ 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 20/11/2022. Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án QVQ - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo QVQ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________
Bản án số: 63/2023/HS-ST
Ngày 27-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Cà Văn Đại.

Ông Đoàn Quang Mạnh.

- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

QVQ, sinh ngày 27/10/1992, tại MB, Mường La, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản Giàn, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông QVA, sinh năm 1968 và con bà CTV, sinh năm 1970; sống như vợ chồng với QTN, sinh năm 2006, có 01 con, sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Tại bản án số 215/2007/HSST ngày 26/12/2007 Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 15 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; Tại bản án số 57/2010/HSST ngày 11/3/2010 Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; Tại bản án số 06/2012/HSST ngày 29/11/2012 Tòa án nhân dân huyện Mường La xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/11/2022; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người làm chứng: CVL, sinh năm 1988, địa chỉ: Bản Giàn, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo QVQ bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào hồi 13 giờ 00 phút ngày 20/11/2022, tại bản Giàn, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang QVQ, sinh ngày 27/10/1992, ở bản Giàn, MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ do QVQ tự giác lấy từ trong phòng ngủ giao nộp:

01 gói được gói bằng nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng, QVQ khai là Heroine để sử dụng và bán kiếm lời;

Ngày 20/11/2022 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:

Vật chứng thu giữ do QVQ tự giác giao nộp:

01 gói được gói bằng nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,15 gam lấy 0,15 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu Q;

Cơ quan Công an huyện Mường La ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 1760/KL-KTHS ngày 23/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

Mẫu ký hiệu Q là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,15 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,15 gam Heroine;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo QVQ không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Quá trình điều tra QVQ khai nhận: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 20/11/2022 QVQ đi từ nhà đến ngã ba bản Giàn, xã MB, huyện Mường La tại đây QVQ có gặp và mua của một người đàn ông dân tộc thái không biết tên và địa chỉ 01 gói Heroine với giá 200.000, đồng cất giấu ở túi quần bên phải đem về nhà bố vợ là ông Quàng Văn Ón, đến hồi 13 giờ 00 phút ngày 20/11/2022 mang ra chuẩn bị để sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Ngoài ra QVQ khai nhận trước đó ngày 06/9/2022 có gặp và mua của một người đàn ông dân tộc thái không biết tên và địa chỉ 01 gói Heroine với giá 400.000, đồng mang về chia nhỏ thành 03 gói, cùng ngày có bán cho CVL, sinh năm 1988, địa chỉ: Bản Giàn, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La 01 gói được 50.000, đồng. Ngày 13/9/2022 bán cho CVL 01 gói được 100.000, đồng. Số tiền bán ma túy 150.000, đồng QVQ đã chi tiêu hết.

2

Về nguồn gốc số ma túy QVQ khai mua của một người đàn ông dân tộc thái không biết tên, địa chỉ. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của QVQ.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo QVQ đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Bản cáo trạng số: 39/CT-VKS-ML ngày 05 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo QVQ về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo QVQ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm b, q khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt QVQ từ 09 đến 10 năm tù;

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.

Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng (đều được niêm phong).

Đối với khoản tiền 150.000, đồng bị cáo bán ma túy mà có đã chi tiêu hết, cần buộc nộp truy thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với CVL người hai lần mua ma túy của QVQ số ma túy đã sử dụng hết, hiện đang bị khởi tố trong vụ án khác.

Đối với ông Quàng Văn Ón là bố vợ của QVQ, khi Quàng Văn Quốc sử dụng và bán ma túy ông không biết.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Kiểm sát viên

3

trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Bị cáo QVQ thừa nhận: Hồi 13 giờ 00 phút ngày 20/11/2022, tại bản Giàn, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,15 gam, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Trước đó ngày 06/9/2022 QVQ có bán cho CVL 01 gói Heroine được 50.000, đồng. Ngày 13/9/2022 bán cho CVL 01 gói Heroine được 100.000, đồng. Số tiền bán ma túy 150.000, đồng QVQ đã chi tiêu hết.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định, lời khai của người mua ma túy.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: QVQ đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung hình phạt: Phạm tội hai lần trở lên và tại bản án số 06/2012/HSST ngày 29/11/2012 Tòa án nhân dân huyện Mường La xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định của điểm a khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự. Các tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo có tiền án, tiền sự: Đã bị kết án ba lần, chưa được xóa án tích. Bị cáo thật thà khai báo và khai ra hành vi bán ma túy trước đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

4

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng (đều được niêm phong).

Đối với khoản tiền 150.000, đồng bị cáo bán ma túy mà có đã chi tiêu hết, cần buộc nộp truy thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với CVL người hai lần mua ma túy của QVQ số ma túy đã sử dụng hết, hiện đang bị khởi tố trong vụ án khác, cần chấp nhận.

Đối với ông Quàng Văn Ón là bố vợ của QVQ, khi Quàng Văn Quốc sử dụng và bán ma túy ông không biết, nên không xem xét xử lý.

Về nguồn gốc ma túy QVQ khai mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của QVQ, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo QVQ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo QVQ 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 20/11/2022.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 20/11/2022). Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

Buộc bị cáo QVQ nộp truy thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 150.000, đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo QVQ phải chịu 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 27/4/2023.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ