vanban.org

Bản án 63/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 10/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quang S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Huỳnh Quang S 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 23/02/2023. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quang S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2023/HS-ST
Ngày 10-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phụng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ba

Ông Phạm Văn Huynh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Linh Thu Hồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Đức Xuân Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Huỳnh Quang S, sinh năm 2003 tại Phú Yên; Nơi đăng ký thường trú: thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; Nơi sinh sống: ấp S, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: tài xế; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Quang S và bà Nguyễn Thị H; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 23/02/2023, đến ngày 04/3/2023 chuyển tạm giam cho đến nay tại nhà Tạm giữ Công an huyện Long Thành.

Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Quang S là người nghiện ma túy từ năm 2020, nguồn gốc ma túy do S mua của một người đàn ông tên Tý (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực gần Trường mầm non H tại khu 13, xã L, huyện L. Khoảng 21 giờ ngày 22/02/2023, S điều khiển xe mô tô biển số 78L1-100.33 đến khu vực trên mua 200.000 đồng ma túy. Người đàn ông tên Tý đã bán cho S 01 túi nylong kích thước 04x1.8cm, bên trong có chứa ma túy và 01 nỏ thủy tinh. S cất túi ma túy và nỏ thủy tinh vừa mua được trong túi áo khoác rồi điều khiển xe đi về, khi đến đoạn đường liên xã L - L thuộc ấp B, xã L, huyện L thì bị Công an xã L tuần tra, kiểm tra phát hiện trong túi áo của S có 01 gói ma túy như trên nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng.

Tại Bản kết luận giám định số 377/KL-KTHS ngày 02 tháng 3 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,2216 gam, loại: Methamphetamine

Vật chứng vụ án: 01 gói niêm phong số 377/KL-KTHS, 01 nỏ thủy tinh, 01 xe mô tô biển số 78L1-100.33.

Tại Cáo trạng số 50/CT-VKSLT ngày 31 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Huỳnh Quang S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Huỳnh Quang S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Quang S từ 12 đến 14 tháng tù.

Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 377/KL-KTHS, 01 nỏ thủy tinh.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng hình sự: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Huỳnh Quang S có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, tang vật của vụ án, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định:

Huỳnh Quang S là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2020 đến nay. Khoảng 21 giờ ngày 22/02/2023, S điều khiển xe mô tô biển số 78L1-100.33 đến gần khu 13 xã L mua 01 túi ma túy dựng trong ni long kích thước 04x1.8cm và 01 nỏ thủy tinh với giá 200.000 đồng của người đàn ông tên Tý và cất giấu trong túi áo khoác khi đi về đến đoạn đường liên xã L – L thuộc ấp Bình Lâm, xã Lộc An, huyện Long Thành thì bị phát hiện bắt giữ. Tại bản kết luận giám định số 377/KL-KTHS ngày 02/3/2023 đã kết luận túi ni long trên là ma túy có khối lượng là 0,2216 gam, loại: Methamphetamine.

Hành vi của bị cáo Huỳnh Quang S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo theo tội danh và điểm, khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Bị cáo là người đã trưởng thành đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, biết tác hại của ma túy, ảnh hưởng sức khỏe con người, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, kinh tế và sự phát triển của chính bản thân và gia đình bị cáo nhưng vẫn sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: không.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 gói niêm phong số 377/KL-KTHS chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định và 01 nỏ thủy tinh, không được phép sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với xe mô tô biển số 78L1-100.33 thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị H, bà H cho bị cáo S mượn không biết S sử dụng vào việc phạm tội, nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho bà H là đúng quy định.

Về vấn đề khác: Đối với người tên Tý đã bán ma túy cho S, hiện nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quang S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Huỳnh Quang S 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 23/02/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 377/KL-KTHS ngày 02/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; 01 nỏ thủy tinh.

(Vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành theo Quyết định chuyển vật chứng số 28/QĐ-VKSLT ngày 31/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/3/2023).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Huỳnh Quang S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo Huỳnh Quang S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ