vanban.org

Bản án 63/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 29/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

̀ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08-6-2023. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2023/HS-ST
Ngày 29-9-2023

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Công Tài

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Tuyên và ông Điểu Nhót

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk

Song, tỉnh Đăk Nông.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên tòa: Ông Thái Lê Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 68/2023/HSST ngày 15-9-2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST-HS ngày 15-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D, sinh năm 1985, tại tỉnh Nam Định; nơi thường trú: Tổ dân A, thị trấn Đức A, huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông; chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã Nam B, huyện Đăk S, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1963 và con bà Lê Thị D (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1992 và có 02 con, con lớn sinh năm 2010 và con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30-01-2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm, về tội “Đánh bạc”, tại Bản án số 03/2015/HSST; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08-6-2023. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công A huyện Đắk S – Có mặt.

Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1992; địa chỉ: Tổ dân A, thị trấn Đức A, huyện Đăk S, tỉnh Đăk Nông - có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu năm 2021, Nguyễn Văn D đi làm tại thành phố Gia N, tỉnh Đắk Nông, được một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch cho 01 bịch chứa khoảng 280 hạt giống cần sa, D mang về cất trong nhà rẫy tại lô 12 khoảnh 6 tiểu khu 1130 thuộc thôn B, xã Nam B, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông. Khoảng đầu tháng 4 năm 2023, D lấy hạt cần sa ra trồng vào các chậu nhựa mục đích để chăn nuôi gia súc, gia cầm, khi cây lớn khoảng 20cm thì D lấy cây ra trồng trên đất rẫy, quá trình chăm cây D tưới nước và bón phân để cây phát triển. Khi cây lớn mọc ra các búp thì D tỉa cành, nhánh của cây để lại búp, khi búp lớn thành búp đặc thì D nhổ cây lên dùng kéo cắt búp để phơi khô và vứt cây đi. D dùng rổ nhựa, mâm, tấm lưới nhựa để phơi các búp cây cần sa. Ngày 08-6-2023, tại thôn B, xã Nam B, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông, lực lượng Công A huyện Đắk S bắt quả tang thu giữ: 03 thùng catton chứa búp cây cần sa phơi khô; 244 cây có lá hình mác nhọn, mép lá hình răng cưa, rễ, thân, cành, hoa, quả được niêm phong trong 05 thùng catton; 20 chậu nhựa màu đen, cao 20cm, đường kính miệng chậu 30cm; đường kính đáy chậu 23cm; 32 chậu nhựa màu đen, cao 27cm, đường kính miệng chậu 31cm, đường kính đáy chậu 27cm; 01 rổ nhựa màu đỏ, kích thước (47x35x09)cm; 01 rổ nhựa màu xanh, cao 16cm, đường kính 49cm; 01 rổ nhựa màu xanh lá cây, cao 10cm, đường kính 52cm; 01 mâm tròn bằng kim loại, cao 03cm, đường kính 51cm; 01 tấm lưới nhựa màu trắng dài 05m, rộng 01m.

Tại bản kết luận giám định số 218/KL-KTHS ngày 13-6-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công A tỉnh Đắk Nông, kết luận: Lá, hoa cây đang trong giai đoạn khô héo được niêm phong trong thùng giấy catton ký hiệu số 01 gửi giám định là ma túy; loại cần sa, có khối lượng mẫu là 853,83 gam. Hoàn lại sau giám định còn 840,28 gam. Lá, hoa cây đang trong giai đoạn khô héo được niêm phong trong thùng giấy catton ký hiệu số 02 gửi giám định là ma túy; loại cần sa, có khối lượng mẫu là 3765,10 gam. Hoàn lại sau giám định còn 3738,89 gam. Lá, hoa cây đang trong giai đoạn khô héo được niêm phong trong thùng giấy catton ký hiệu số 03 gửi giám định là ma túy; loại cần sa, có khối lượng mẫu là 3307,10 gam. Hoàn lại sau giám định còn 3281,17 gam.

Tại bản kết luận giám định số 217/KL-KTHS ngày 13-6-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công A tỉnh Đắk Nông, kết luận: 244 cây xanh có thân, rễ, cành, lá hình mác nhọn, mép lá hình răng cưa được niêm phong trong 05 thùng giấy catton gửi giám định đều chứa chất ma túy là cần sa.

Tại Cáo trạng số: 66/CTr-VKS ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Viện trưởng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng, không oan.

Kết quả tranh luận tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi xem xét các chứng cứ buộc tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy: 7.860,34 gam (tương đương 7,86034 kilôgam) cần sa hoàn lại sau giám định và 20 chậu nhựa màu đen, cao 20cm, đường kính miệng chậu 30cm; đường kính đáy chậu 23cm; 32 chậu nhựa màu đen, cao 27cm, đường kính miệng chậu 31cm, đường kính đáy chậu 27cm; 01 rổ nhựa màu đỏ, kích thước (47x35x09)cm; 01 rổ nhựa màu xanh, cao 16cm, đường kính 49cm; 01 rổ nhựa màu xanh lá cây, cao 10cm, đường kính 52cm; 01 mâm tròn bằng kim loại, cao 03cm, đường kính 51cm; 01 tấm lưới nhựa màu trắng dài 05m, rộng 01m là vật chứng vụ án.

Tại phiên toà bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công A huyện Đắk S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Song, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ qua tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quA điều tra, cũng như các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Xác định vào Ngày 08-6-2023, tại thôn B, xã Nam B, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông, lực lượng Công A huyện Đắk S phát hiện và bắt quả bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 7.926,03 gam (tương đương 7,92603 kilôgam) lá, hoa cây cần sa cùng các vật chứng khác. Mục đích thu gom lá, hoa cây cần sa già rồi phơi khô của D để sử dụng cá nhân. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại điểm d khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

d) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam”

. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và điều khiển được hành vi của mình. Xét hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phải biết được viê ̣c trồng, tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma tuý là xâm phạm đến sự độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ra những hệ lụy xấu, ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe con người, là tiền đề cho những tệ nạn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống xã hội, bị cáo phải nhận thức được tác hại của ma túy, nhưng do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã có hành vi trái pháp luật.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về quyết định hình phạt: Bị cáo pha ̣m tô ̣i vớ i lỗi cố ý; có ý thức coi thường pháp luật. Do vậy cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời giA nhất định mới đảm bảo được mục đích của hình phạt.

. Về vật chứng vụ án: Xét 7.860,34 gam (tương đương 7,86034 kilôgam) cần sa hoàn lại sau giám định và 20 chậu nhựa màu đen, cao 20cm, đường kính miệng chậu 30cm; đường kính đáy chậu 23cm; 32 chậu nhựa màu đen, cao 27cm, đường kính miệng chậu 31cm, đường kính đáy chậu 27cm; 01 rổ nhựa màu đỏ, kích thước (47x35x09)cm; 01 rổ nhựa màu xanh, cao 16cm, đường kính 49cm; 01 rổ nhựa màu xanh lá cây, cao 10cm, đường kính 52cm; 01 mâm tròn bằng kim loại, cao 03cm, đường kính 51cm; 01 tấm lưới nhựa màu trắng dài 05m, rộng 01m là vật chứng, công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.

. Đối với hành vi trồng 244 cây cần sa của Nguyễn Văn D không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Công A huyện Đắk Song đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 7.500.000 đồng. Đối với 244 cây cần sa này Công A huyện Đắk S đã ra Quyết định xử lý bằng hình thức tiêu huỷ ngày 31-8-20223.

. Đối với đối tượng không rõ nhân thân lai lịch đã cho D hạt giống cần sa, Cơ qua Cảnh sát điều tra Công A huyện Đắk S đã điều tra nhưng chưa có kết quả nên tiếp tục xác minh, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ và đúng pháp luật cần chấp nhận.

. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thờ i ha ̣n chấp hành hình phạt tù tinh tứ

̀ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08-6-2023.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 7.860,34 gam (tương đương 7,86034 kilôgam) cần sa hoàn lại sau giám định và 20 chậu nhựa màu đen, cao 20cm, đường kính miệng chậu 30cm; đường kính đáy chậu 23cm; 32 chậu nhựa màu đen, cao 27cm, đường kính miệng chậu 31cm, đường kính đáy chậu 27cm; 01 rổ nhựa màu đỏ, kích thước (47x35x09)cm; 01 rổ nhựa màu xanh, cao 16cm, đường kính 49cm; 01 rổ nhựa màu xanh lá cây, cao 10cm, đường kính 52cm; 01 mâm tròn bằng kim loại, cao 03cm, đường kính 51cm; 01 tấm lưới nhựa màu trắng dài 05m, rộng 01m (Có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công A huyện Đăk S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk S ngày 19-9-2023).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ