- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ tình cảm: Chị Trương Thị T được ly hôn anh Trương Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN –––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:63/2023/HNGĐ-ST Ngày 08 tháng 05 năm 2023 “V/việc tranh chấp về hôn nhân gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Anh Ngọc
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thanh – Ông Phan Văn Hưng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Không tham gia.
Trong ngày 08 tháng 5 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:170/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023, về việc Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:80/2023/QĐST- HNGĐ ngày 17/4/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số:20/2023/QĐ-HPT ngày 28/4/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị T, sinh ngày 18/02/1987.
Trú tại: xóm 2, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Trương Văn L, sinh ngày 16/10/1988.
Trú tại: xóm 2, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
(Vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, trình bày tại bản khai và trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa thì vụ án có nội dung.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị T và anh Trương Văn L cưới nhau vào tháng 5/2008, trước khi cưới anh L, chị T có quá trình tìm hiểu, tự nguyện tiến tới hôn nhân và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, nơi anh L có hộ khẩu ban đầu. Sau khi kết hôn thì anh L nhập hộ khẩu về quê vợ ở xóm 2, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An để sinh sống. Vợ chồng sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, trong cuộc sống chung có nhiều xung đột cự cải. Mâu thuẫn ban đầu chưa đến mức trầm trọng, nhưng càng về sau thì mâu thuẫn xẩy ra ngày càng sâu sắc hơn, vợ chồng mất tình cảm. Sau khi mâu thuẫn xẩy ra vợ chồng đã tự hòa giải, gia đình hai bên đã góp ý động viên, nhưng vẫn không thể duy trì hôn nhân, nên vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay. Chị T xác định đã mất hết tình cảm đối với anh L, hôn nhân không thể duy trì chị T đề nghị giải quyết ly hôn để ổn định cuộc sống.
- Về quan hệ con chung:Vợ chồng có 02 con chung cháu Trương Đình H(Giới tính: Nam), sinh ngày 25/02/2009 và cháu Trương Tuệ M(Giới tính : nữ), sinh ngày 02/10/2013. Từ ngày vợ chồng sống ly thân con chung do chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh L có hỏi thăm con chung, nhưng không cấp dưỡng nuôi con. Nếu ly hôn chị T đề nghị giao hai con chung cho chị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, vì con chung có nguyện vọng được sinh sống với mẹ, chị không yêu cầu cấp anh L cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quan hệ tài sản chung: Chị Trương Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Trương Văn L, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu anh có mặt tại tòa án để giải quyết vụ án, nhưng anh không hợp tác, cố tình vắng mặt, tòa án không thu thập được ý kiến, lời khai của bị đơn. Song qua các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và xác minh tình trạng hôn nhân, con chung chưa thành niên tại địa phương thì về quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung giữa chị Trương Thị T, anh Trương Văn L cơ bản đúng như nguyên đơn đã trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn,bị đơn có nơi cư trú tại xóm 2, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, qui định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu nguyên đơn, bị đơn có mặt tại tòa án để giải quyết, nhưng bị đơn anh Trương Văn L không chấp hành, không hợp tác. Do đó Tòa án đã lập biên bản theo trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự làm cơ sở để giải quyết vụ án.
Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy báo tham gia phiên tòa lần thứ nhất đã được tống đạt lệ cho các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất nguyên đơn có mặt, bị đơn anh Trương Văn L vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử đã Quyết định hoãn phiên tòa, ấn định về thời gian tiếp tục xét xử vụ án.Tòa án tiếp tục tống đạt, hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy báo tham gia phiên tòa lần thứ hai cho các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ hai nguyên đơn có mặt, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn anh Trương Văn L.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Điều kiện kết hôn, trình tự thủ tục tiến tới hôn nhân giữa chị Trương Thị T, anh Trương Văn L được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Chị T, anh L tự nguyện tiến tới hôn nhân, đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 46 ngày 24/5/2008 nên xác định hôn nhân giữa chị Trương Thị T và anh Trương Văn L là hôn nhân hợp pháp.
Mâu thuẫn cơ bản dẫn đến hôn nhân giữa chị T, anh L tan rã, đổ vỡ là do quá trình sống chung vợ chồng không tìm được tiếng nói, lối đi chung hôn nhân, đã có những lời nói, xử sự không đúng mực với nhau trong quá trình sống chung. Chị T, anh L xác định hôn nhân đã đổ vỡ nên anh chị đã chủ động sống ly thân cắt đứt các mối quan hệ hệ đối với nhau kể từ đầu năm 2021. Kể từ ngày sống ly thân cho đến nay các bên không có ý thức hòa giải níu kéo hôn nhân. Từ đó cho thấy hôn nhân giữa chị T, anh L đã thực sự tan rã, đổ vỡ, sợi dây gắn kết tình cảm, mục đích hôn nhân giữa các bên không còn. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L là có căn cứ, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Trương Thị T được ly hôn anh Trương Văn L.
- Về quan hệ con chung: Từ ngày vợ chồng sống ly thân hai con chung được chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh L không có trách nhiệm vật chất gì trong việc nuôi con. Mặc dù không có sự hổ trợ của anh L trong việ nuôi hai con chung, nhưng chị T vẫn nuôi con tốt dạy con ngoan, con chung phát triện tốt về mọi mặt. Nay chị T đề nghị giao hai con chung cho chị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là đúng, phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội, phù hợp với nguyện vọng con chung, do đó cần áp dụng Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử chấp nhận về việc đề nghị giao nuôi con của chị Trương Thị T.
Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung, nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh L cho đến lúc chị T có đơn yêu cầu.
- Về quan hệ tài sản: Chị Trương Thị T không yêu cầu tòa giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Buộc chị Trương Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xử:
1. Về quan hệ tình cảm: Chị Trương Thị T được ly hôn anh Trương Văn L.
2.Về quan hệ con chung: Giao hai con chung cháu Trương Đình H(Giới tính: Nam), sinh ngày 25/02/2009 và cháu Trương Tuệ M(Giới tính: nữ), sinh ngày 02/10/2013 cho chị Trương Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Trương Văn L cho đến lúc chị T có đơn yêu cầu.
Anh Trương Văn L người không trực tiếp nuôi con chung được quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở, ngăn cấm.
Vì lợi ích của con các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Áp dụng điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự: Điều 26: Điều 27 của nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
- Buộc: Chị Trương Thị T nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Án phí ly hôn sơ thẩm chị T phải nộp được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo biên lai nộp tiền số: 0000741 ngày 03/04/2023, chị T đã nộp đủ án phí
4.Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã T, huyện Y, Nghệ An và nơi cư trú cuối cùng của bị đơn.
TM: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự, - VKSND H. Yên Thành. - CC THA DS H. Yên Thành. - TAND tỉnh Nghệ An - VKSND tỉnh Nghệ An - Lưu HSVA - UBND xã D(Nơi ĐKKH) - UBND xã ( Nơi các đs cư trú) | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Vũ Anh Ngọc |