vanban.org

Bản án 63/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Mạnh H. Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Mạnh H được ly hôn với chị Nguyễn Thị H1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa anh Nguyễn Mạnh H và chị Nguyễn Thị H1"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20-6-2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Ngọc Thành, ông Lê Đình Khôi

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 65/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1991

Địa chỉ: Ấp 3, xã Đ, huyện P, tỉnh Đồng Nai

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1993

Địa chỉ: Ấp 3, xã Đ, huyện P, tỉnh Đồng Nai.

(Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Mạnh H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị H1 tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2013 và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân Đ, huyện P, Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định ngày 18-3-2013.

Sau khi kết hôn thì vợ chồng sinh sống tại Đ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 12/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, ngoài ra chị H1 có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác, sống không chung thủy với anh. Anh đã cố gắng chịu đựng và tìm mọi biện pháp để hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thay đổi. Anh và chị H1 đã không còn sống chung với nhau từ tháng 12/2022 cho đến nay. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị H1.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Hoài A, sinh ngày 03-10-2013 và Nguyễn Hoàng Gia H2, sinh ngày 14-7-2016. Hiện nay các con chung đang sinh sống cùng với anh. Anh có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng.

- Về tài sản: Anh H trình bày anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị H1 không đến Tòa án tham gia tố tụng, khi Tòa án đến trực tiếp tại địa phương thì không gặp được, nên không thu thập được lời khai của bị đơn.

Tòa án đã tiến hành sao gửi các tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp cho bị đơn và thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho các đương sự.

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không thay đổi, bổ sung ý kiến, đề nghị của mình; bị đơn không có yêu cầu phản tố. Các đương sự không giao nộp, bổ sung thêm tài liệu chứng cứ nào khác, không yêu cầu triệu tập đương sự, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H. Về hôn nhân: Cho anh H được ly hôn với chị H1. Về con chung: Giao cho anh H trực tiếp nuôi các con chung, tạm thời chị H1 chưa phải cấp dưỡng cho con. Đề nghị về tài sản chung, nợ chung sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có tranh chấp. Về án phí: Anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1] Bị đơn chị Nguyễn Thị H1 có nơi cư trú tại Đ, huyện P nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Anh Nguyễn Mạnh H khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với chị H1, tranh chấp về nuôi con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định tư cách đương sự anh H là nguyên đơn và chị H1 là bị đơn, quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt tại phiên họp, phiên hòa giải không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải được theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

. Về hôn nhân: Hôn nhân giữa anh H và chị H1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Đ, huyện P và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật ngày 18-3-2013. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét lời khai của anh H và tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình tiến hành tố tụng thể hiện: Anh H trình bày vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 12/2022 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là vì bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, chị H1 có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác. Vợ chồng đã không còn sống chung với nhau từ tháng 12/2022 cho đến nay. Nay anh H yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh H được ly hôn với chị H1.

Bản thân chị H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án tham gia tố tụng thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến anh H, không có thiện chí đoàn tụ gia đình.

Qua xác minh tại địa phương đã xác định được gia đình anh H, chị H1 đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, không hòa giải đoàn tụ được. Anh H, chị H1 đã không còn sống chung với nhau từ tháng 12/2022 cho đến nay.

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định, anh H và chị H1 đã không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận.

. Về nuôi con: Anh H, chị H1 có 02 con chung là Nguyễn Hoài A, sinh ngày 03-10-2013 và Nguyễn Hoàng Gia H2, sinh ngày 14-7-2016. Khi ly hôn anh H yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Hoài A, sinh ngày 03-10-2013 và Nguyễn Hoàng Gia H2, sinh ngày 14-7-2016, tạm thời chưa yêu cầu chị H1 phải cấp dưỡng cho con.

Xét thấy, từ sau khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng không còn sống chung với nhau các con chung do anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện nay, bản thân anh H có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung và nghề nghiệp thu nhập ổn định. Ngoài ra cháu Anh là con chung trên 07 tuổi cũng có nguyện vọng được ở với anh H. Đối với chị H1 trong suốt quá trình giải quyết vụ án chị H1 không có ý kiến về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Do con chung còn nhỏ, quen với môi trường chăm sóc, nuôi dưỡng của người anh H, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giữ nguyên nếp sống sinh hoạt hiện nay nhằm đảm bảo ổn định tâm lý của con chung. Từ các căn cứ trên, để đảm bảo quyền lợi cho con chung, tránh sự xáo trộn đời sống tâm lý của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao các con chung cho anh H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Anh H không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn. Khi nào có tranh chấp về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.

. Về tài sản: Anh H trình bày vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị H1 không có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung, nợ chung và không có yêu cầu phản tố. Vì vậy, Hội đồng xét xử tách phần tài sản ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

Về án phí: Anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 11, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Mạnh H.

- Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Mạnh H được ly hôn với chị Nguyễn Thị H1.

- Về nuôi con: Giao cho anh Nguyễn Mạnh H trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Hoài A, sinh ngày 03-10-2013 và Nguyễn Hoàng Gia H2, sinh ngày 14-7-2016, tạm thời chị H1 chưa phải cấp dưỡng cho con.

Chị H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản: Phần tài sản chung và nợ chung của các đương sự sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Mạnh H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) anh H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003152 ngày 21-02-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai được chuyển thành án phí.

3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ