- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án về ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị L. được ly hôn với anh Lục Văn H..
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2023/HNGĐ-ST Ngày 02/8/2023 “V/v: Ly hôn, giao nuôi con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Hồng Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sơn Hải và ông Vũ Thái Thịnh.
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Huệ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 194/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, giao nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L., sinh năm 1991.
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện S., tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lục Văn H., sinh năm 1988.
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện S., tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L. và anh Lục Văn H. kết hôn với nhau vào năm 2013, trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S., tỉnh Tuyên Quang vào ngày 01/02/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống và làm việc tại xã T, huyện S.. Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn, hiện vợ chồng đang sống ly thân. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, tháng 4 năm 2023 chị Hoàng Thị L. có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lục Văn H..
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị L. trình bày: Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng thường bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên hay cãi chửi nhau, cuộc sống không hạnh phúc, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lục Văn H..
Về con chung: Anh Lục Văn H. và chị Hoàng Thị L. có 02 con chung là Lục Hoàng T., sinh ngày 15/5/2014 và Hoàng L., sinh ngày 26/5/2022. Quá trình giải quyết chị L. đề nghị giao các con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không yêu cầu anh H. cấp dưỡng nuôi con.
Tại biên bản lấy lời khai của con chưa thành niên thể hiện cháu Lục Hoàng T. có quan điểm nếu bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Anh Lục Văn H. và chị Hoàng Thị L. không có, không đề nghị giải quyết.
Kết quả xác minh thể hiện: Anh Lục Văn H. có hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã T, huyện S., tỉnh Tuyên Quang. Anh Lục Văn H. và chị Hoàng Thị L. kết hôn với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S., tỉnh Tuyên Quang theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại Thôn B, xã T, huyện S.. Quá trình chung sống vợ chồng bình thường, sau phát sinh mâu thuẫn, thôn xã chưa được hòa giải. Năm 2022, anh H. chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở thôn H, xã Đ, huyện S sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Hiện tại, ở xã Đông Thọ anh H. cũng đi làm ăn xa thi thoảng mới về nhà, anh làm gì, ở đâu địa phương không biết, không xác định được địa chỉ cụ thể. Khi Tòa án đến làm việc gia đình và cán bộ địa phương đã nhiều lần liên hệ với anh H. qua điện thoại để về giải quyết việc ly hôn giữa chị Hoàng Thị L. với anh nhưng anh H. có quan điểm do mới đi làm ăn ở Hà Nội nên không về, việc ly hôn tùy ý kiến chị L..
Anh Lục Văn H. không có mặt ở địa phương, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H. vẫn không đến Tòa án làm việc. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương chỉ tổ chức phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ với nguyên đơn mà không tiến hành hòa giải.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn khi tham gia tố tụng đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng đối với bị đơn chưa chấp hành nghiêm quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung vụ án: Chị Hoàng Thị L. và anh Lục Văn H. kết hôn vào năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S. là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng bình thường, có phát sinh mâu thuẫn, hiện vợ chồng sống ly thân. Do vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị HĐXX xử cho chị Hoàng Thị L. được ly hôn với anh Lục Văn H.; Về con chung: Giao 02 con chung là Lục Hoàng T., sinh ngày 15/5/2014 và Hoàng L., sinh ngày 26/5/2022 cho chị Hoàng Thị L. trực tiếp chăm sóc, giáo dục theo quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Các đương sự không đề nghị giải quyết nên không đề cập xử lý.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX giải quyết về án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng và quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện chị Hoàng Thị L. đề nghị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lục Văn H. và giao nuôi con chung theo quy định; không đề nghị giải quyết về tài sản, công nợ chung. Do vậy quan hệ pháp luật ở đây được xác định là “Ly hôn, giao nuôi con chung khi ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập anh H. nhiều lần nhưng anh H. không đến làm việc, đây được xác định thuộc trường hợp bị đơn cố tình trốn tránh nghĩa vụ. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị L. vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Lục Văn H. vắng mặt không có lý do. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án và xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 28, 35, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự
. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L. và anh Lục Văn H. kết hôn với nhau trên cơ sở được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện S., tỉnh Tuyên Quang ngày 01/02/2013 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống bình thường, sau phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng hiện sống ly thân. Tháng 4/2023 chị L. có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lục Văn H..
Như vậy, cuộc sống hôn nhân của chị Hoàng Thị L. và anh Lục Văn H. bình thường, có mâu thuẫn, vợ chồng hiện sống ly thân nên xác định hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, có cơ sở chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn xử cho chị Hoàng Thị L. được ly hôn với anh Lục Văn H..
2.2. Về con chung: Chị Hoàng Thị L. và anh Lục Văn H. có 02 con chung là Lục Hoàng T., sinh ngày 15/5/2014 và Hoàng L., sinh ngày 26/5/2022.
Xét thấy, cháu Lục Hoàng T. và Hoàng L. là con chung của chị Hoàng Thị L. và anh Lục Văn H. nên anh chị đều cùng phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với các cháu. Quá trình giải quyết chị L. có quan điểm đề nghị giao cả hai con chung cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, cháu Toản có nguyện vọng được ở với mẹ, cháu Long chưa đủ 36 tháng tuổi, anh H. hiện không có mặt ở địa phương. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung và đảm bảo quyền lợi của các đương sự sau khi ly hôn, xét nguyện vọng của chị L. và cháu Toản, cần giao các cháu Lục Hoàng T., sinh ngày 15/5/2014 và Hoàng L., sinh ngày 26/5/2022 cho chị Hoàng Thị L. trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh Lục Văn H. không phải cấp dưỡng nuôi con (do chị L. không yêu cầu) và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
2.3. Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Chị Hoàng Thị L. và anh Lục Văn H. không có, không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét.
. Về án phí: Chị Hoàng Thị L. phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định pháp luật.
. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235, 266, 271, 273 - Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 - Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị L. được ly hôn với anh Lục Văn H..
2. Về con chung: Giao các cháu Lục Hoàng T., sinh ngày 15/5/2014 và Hoàng L., sinh ngày 26/5/2022 cho chị Hoàng Thị L. trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Anh Lục Văn H. không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Hoàng Thị L. phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002758 ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Dương. Chị Hoàng Thị L. đã nộp đủ án phí của vụ án.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TQ; - VKSND huyện SD; - Chi cục THADS huyện SD; - UBND xã T.; - Các đương sự; - Lưu VT- HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Hồng Chiến |