- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "An HNGĐ Bắc - Kỳ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị B được ly hôn anh Phạm Văn K.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12 - 9 - 2023 V/v: ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đoàn Thị Duyên
2. Bà Bùi Thị Ngoan
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Khánh Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 97/2023/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2023 về “ ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXX - ST ngày 04/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 41/QĐST - HNGĐ ngày 23/8/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị B, sinh năm 1983
- Bị đơn: Anh Phạm Văn K, sinh năm 1984
Địa chỉ: thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.
(Chị B đề nghị xét xử vắng mặt, anh K vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/6/2023 và trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn chị Đỗ Thị B trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị B và anh Ktự nguyện đăng ký kết hôn ngày 02/7/2004 tại UBND xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do anh K chơi bài bạc về đánh đập chị B. Chị B đã viết đơn xin ly hôn nhưng sau đó chị rút đơn về với lý do con cái còn nhỏ cần có đầy đủ bố mẹ nhưng anh K không thay đổi, vẫn ham chơi cờ bạc, khi thua bạc yêu cầu chị B đưa tiền, chị B không đưa thì anh K đánh chị B. Nay chị B nhận thấy không thể tiếp tục chung sống cùng anh K nữa, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh K.
- Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Đỗ Trung T sinh ngày 24/05/2005 đã trưởng thành và Phạm Đỗ Khánh C, sinh ngày 10/8/2010. Ly hôn chị B có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu C và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quan hệ tài sản chung: Chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản xác minh ngày 28/7/2023,UBND xã Hồng Tiến cung cấp: Chị B và anhK đăng ký kết hôn và có hộ khẩu tại UBND xã Hồng Tiến. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do anh K ham chơi cờ bạc, anh K thường xuyên đánh chị B hàng xóm phải can ngăn nhưng chị B không báo chính quyền địa phương nên không có hình thức xử lý. Cách đây 10 năm chị B cũng đã làm đơn xin ly hôn anh K nhưng sau đó rút đơn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy các con nhưng anh K không thay đổi vẫn ham mê cờ bạc. Anh K đang đi làm tự do ở tỉnh ngoài, thỉnh thoảng vẫn về nhà. Vợ chồng có 02 con chung như chị B trình bày. Nay chị B đề nghị Tòa án xin ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết cho chị B được ly hôn anh K, giao cháu Chi cho chị B nuôi dưỡng.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình có quan điểm cho rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện chưa đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận cho chị B được ly hôn anh K.
Về quan hệ con chung: Giao cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Đỗ Khánh C, sinh ngày 10/8/2010. Chị B không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung. Anh K có quyền thăm nom, chăm sóc con chung.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
Về án phí: Áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, chị B phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả thảo luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là anh Phạm Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng tại trụ sở UBND xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ để làm rõ tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi dưỡng con chung và tài sản chung vợ chồng, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng với quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị B kết hôn với anK trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Tòa án đã triệu tập để hòa giải đoàn tụ vợ chồng nhưng chị B kiên quyết ly hôn và anh K vắng mặt. Điều này chứng tỏ đời sống chung của vợ chồng thực tế không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị B, quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa, xử cho chị B được ly hôn anh K là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung: Chị B có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, việc trông nom, nuôi dưỡng con chung là quyền lợi và nghĩa vụ của cả cha và mẹ. Việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Con chung của chị B và anK là cháu C hiện nay đang do chị B trực tiếp nuôi dưỡng, cháu C có nguyện vọng ở với chị B, anh K hiện nay không có mặt ở địa phương. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của chị B, ý kiến của Viện kiểm sát: giao con chung Phạm Đỗ Khánh C cho chị B tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho con chung. Anh K được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Về mức cấp dưỡng: Chị B không yêu cầu anhK cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra giải quyết.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết, Tòa án không ghi được lời khai của anhK nên không có cơ sở xem xét, vì vậy Tòa án không đặt ra giải quyết về quan hệ tài sản chung.
Về án phí: Chị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban t B vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị B được ly hôn anh Phạm Văn K.
2. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Đỗ Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Phạm Đỗ Khánh C, sinh ngày 10/8/2010. Chị B không yêu cầu anK cấp dưỡng nuôi con chung. AnK có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Chị B và anK có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Đỗ Thị B phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0001929 ngày 04/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Chị Đỗ Thị B đã nộp xong án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị B và anh K có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Kiến Xương; - VKSND tỉnh Thái Bình; - THA huyện Kiến Xương; - UBND xã Hồng Tiến; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. Hội thẩm nhân dân Hội thẩm nhân dân Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thanh Xuân HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Thị Thanh Xuân HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Thị Thanh Xuân HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Thị Thanh Xuân |