- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình (Vũ - Hạnh)"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2023/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 5 - 2023 V/v tranh chấp hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Văn Bình;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Minh Tân
2. Bà Trần Thị Phiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thụy Thùy Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Ông Trần Cao Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 63/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2023/QĐST-DS ngày 12/5/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Hứa Ngô Quang V, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Số 04 đường Tắc Thầy C, phường Mỹ Ph, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn: Chị Trần Thị Mỹ H, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Ấp Tân Th, xã Tân Ph, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Hứa Ngô Quang V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh V và chị H sau khi tìm hiểu được 01 năm thì tiến đến hôn nhân, có đám cưới, có đăng ký kết hôn và được ủy ban phường An Hòa, thành phố Sa Đéc cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08/8/2018.
Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc tại ấp Tân Lập, xã Tân Thành, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long đến khoảng đầu năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh V đi làm xa trên thành phố Hồ Chí Minh còn Hạnh thì ở nhà nên làm tình cảm dần phai nhạt và vợ chồng cũng không còn sống chung hơn nữa năm nay.
Do cảm thấy tình cảm không còn và cũng không có ý định hàn gắn nên nay anh Hứa Ngô Quang V yêu cầu được ly hôn với chị Trần Thị Mỹ H.
- Về con chung: Anh V xác định khi sống chung với chị H không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Trần Thị Mỹ H dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần 2 nên không có ý kiến trình bày
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm về tuân thủ pháp luật tố tụng và nội dung giải quyết vụ án (có bài phát biểu kèm theo).
- Về tuân thủ pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Từ khi thụ lý vụ án đến tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của BLTTDS. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của Điều 70 và 72 BLTTDS.
- Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Về hôn nhân: Cho anh Hứa Ngô Quang V được ly hôn với chị Trần Thị Mỹ H.
- Về con chung: Đương sự trình bày không có nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự trình bày không có nên không xem xét.
- Về án phí: Anh Hứa Ngô Quang V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Theo đơn khởi kiện anh Hứa Ngô Quang V yêu cầu ly hôn với chị Trần Thị Mỹ H. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ dân sự, tranh chấp hôn nhân gia đình theo Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và chị H đang cư trú tại ấp Tân Thuận, xã Tân Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
Anh Hứa Ngô Quang V có đơn xin vắng mặt, chị Trần Thị Mỹ H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt không lý do. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án:
Xét quan hệ hôn nhân giữa anh Hứa Ngô Quang V và chị Trần Thị Mỹ H, Hội đồng xét thấy như sau:
Hôn nhân giữa anh V và chị H phát sinh trên cơ sở tự nguyện, được gia đình hai bên chấp thuận nên tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường An Hòa, thành phố Sa Đéc cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08/8/2018 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Theo anh V xác định: Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc tại ấp Tân Lập, xã Tân Thành, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long đến khoảng đầu năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh V đi làm xa trên thành phố Hồ Chí Minh còn chị H thì ở nhà nên tình cảm dần phai nhạt dẫn đến vợ chồng không còn tiếng nói chung và không còn sống chung từ đó cho đến nay.
Do cảm thấy tình cảm không còn nên anh Hứa Ngô Quang V yêu cầu được ly hôn với chị Trần Thị Mỹ H.
Đối với chị H dù được Tòa án triệu tập nhiều lần để tạo điều kiện cho các bên hòa giải, hàn gắn tình cảm nhưng chị H không đến Tòa án.
Cũng theo nội dung trong biên bản xác minh ngày 18/4/2023 bà Phạm Thị Phương L xác định: Bà L là mẹ ruột của chị H và chị H đang ở chung với bà. Khi Tòa án tống đạt văn bản tố tụng về việc anh V yêu cầu ly hôn với chị H thì được bà L nhận thay và có giao lại cho chị H. Khi nhận được thông báo, chị H cũng thống nhất ly hôn. Bà L cũng xác định chị H và anh V không có con chung, không có tài sản chung và nợ chung.
Như vậy qua lời trình bày của bà L đã xác định: Dù chị H đã nhận được văn bản do Tòa án tống đạt và biết được việc anh V đang yêu cầu ly hôn nhưng chị H không đến Tòa án. Điều này cho thấy chị H cũng không có ý định hàn gắn tình cảm để quay về chung sống với anh V. Xét mục đích hôn nhân giữa các đương sự không đạt được nên đã thỏa mãn điều kiện để cho ly hôn theo Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh V, cho anh Hứa Ngô Quang V được ly hôn với chị Trần Thị Mỹ H.
Về con chung: Anh V trình bày không có con chung với chị Trần Thị Mỹ H. Việc này đã được bà L là mẹ của chị H xác nhận. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Anh V xác định không có tài sản chung với chị H, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Anh V xác định không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh Hứa Ngô Quang V chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình; Khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị định 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho anh Hứa Ngô Quang V được ly hôn với chị Trần Thị Mỹ H.
2. Về con chung: Anh V xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản chung: Anh V xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: Anh V xác định không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Anh Hứa Ngô Quang V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0017319 ngày 17/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
6. Về quyền kháng cáo: Anh Hứa Ngô Quang V, chị Trần Thị Mỹ H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Tòa án Tỉnh; - VKSND huyện Châu Thành; - CCTHADS huyện Châu Thành; - UBND phường An Hòa, TPSĐ (số 53/2018); - Lưu văn thư, hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Châu Văn Bình |