- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HSST TRương Văn Kiên - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trương V K 15 (Mười lăm ) tháng tù.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2022/HS-ST Ngày 23 tháng 9 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Thái Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thanh Hải
2. Ông Lê Hợp Huyên
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An, tham gia phiên toà: Ông Hồ Văn Thái - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2022/QĐXXST-HS ngày 12/9/2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương V K, tên gọi khác: Không; sinh ngày 04 tháng 11 năm 1990, tại thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm xx, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương V B, sinh năm 1960 và bà Nguyễn T K , sinh năm 1962; vợ: Hồ T H, sinh năm 1995 và có 2 con, con lớn sinh năm 2021; con nhỏ sinh năm sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam, tạm giữ từ ngày 13/6/2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến: Anh Nguyễn V T, sinh năm 1980
Trú tại: Xóm H L, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 13/6/2022, Trương V K một mình đón xe buýt từ khu vực chợ N, thị xã T, tỉnh Nghệ An lên khu vực thị trấn Q, huyện Q để tìm mua ma túy. Tại đây, K có gặp một người đàn ông không quen biết đi xe máy và có hỏi người này để nhờ mua ma túy. Người đàn ông đó đồng ý và K đưa cho người đàn ông đó 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Sau đó người đàn ông đó đi một lúc thì quay lại đưa cho K 01 (một ) gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, K cất ma túy vào túi quần bên phải phía trước đang mặc và đón xe buýt quay về thị xã T, khi xe đi đến khu vực thuộc xóm H, xã N, thị xã T thì Trương V K xuống xe đi bộ để tìm nơi sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an thị xã Thái Hòa tiến hành kiểm tra, biết không thể che dấu hành vi phạm tội của mình nên Trương V K đã tự nguyện lấy gói ma túy trong túi quần phía trước bên phải mà K đang mặc giao nộp cho cơ quan Công an. Tổ công tác cơ quan Công an thị xã Thái Hòa đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ niêm phong vật chứng. Đồng thời đưa Trương V K về trụ sở Công an thị xã Thái Hòa để điều tra làm rõ.
Tại biên bản mở niêm phong và xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại lập ngày 13/6/2022 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thái Hòa xác định: mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Trương V K trong quá trình bắt quả tang có khối lượng 0,11gam (không phẩy mười một gam) sau khi loại bỏ bao bì.
Tại bản kết luận giám định số 896/KL-KTHS( Đ2-MT) ngày 20/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Trương V K là ma túy (hêrôine) có khối lượng 0,11 gam (không phẩy mười một gam).
Trong quá trình điều tra, Trương V K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ ánTại bản Cáo trạng số: 57/CT-VKS ngày 07 tháng 9 năm 2022, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà đã truy tố Trương V K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - BLHS.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38- BLHS: Xử phạt bị cáo Trương V K từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 - BLTTHS; điểm c khoản 1 Điều 47 - BLHS: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư hình chữ nhật, kích thước (23x16)cm được niêm phong theo quy định bên trong chứa: 01 (một) mảnh giấy gói màu hồng, trên một mặt có các chữ cái và 01 (một) phong bì thư niêm phong.
01 phong bì hình chữ nhật, kích thước (11x18)cm, được niêm phong đúng quy định, bên trong có chứa 01 (một) que test ma túy.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Bị cáo nhất trí về tội danh, mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị, bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 15 giờ 15 phút ngày 13/6/2022, tại xóm H, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An cùng vật chứng thu giữ được. Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với lời khai của người chứng kiến trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa, từ đó đã xác định được: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 13/6/2022 tổ công tác Công an thị xã Thái Hòa tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt giữ Trương V K tàng trữ 0,11 gam (không phẩy mười một gam) ma túy Heroin nhằm mục đích sử dụng. Nên hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây tác hại cho sức khỏe của con người, phá hoại hạnh phúc gia đình và là nguyên nhân gây ra nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của mình là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích để thoả mãn cơn nghiện của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy việc đưa vụ án ra xét xử công khai kịp thời là cần thiết, góp phần trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm về ma túy nên cần xét xử nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cái về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 - BLHS.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Vật chứng vụ án gồm: 01 (một) phong bì thư hình chữ nhật, kích thước (23x16)cm được niêm phong theo quy định bên trong chứa: 01 (một) mảnh giấy gói màu hồng, trên một mặt có các chữ cái và 01 (một) phong bì thư niêm phong.
01 phong bì hình chữ nhật, kích thước (11x18)cm, được niêm phong đúng quy định, bên trong có chứa 01 (một) que test ma túy.
Cần tịch thu, tiêu huỷ các vật chứng trên theo các điểm a, c khoản 2 Điều 106 - BLTTHS; điểm c khoản 1 Điều 47 - BLHS.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Trương V K quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được lai lịch cụ thể nên không có cơ sở xử lý.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - BLHS. Tuyên bố bị cáo Trương V K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trương V K 15 (Mười lăm ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/6/2022.
-Vật chứng vụ án: Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 - BLTTHS; điểm c khoản 1 Điều 47 - BLHS: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư hình chữ nhật, kích thước (23x16)cm được niêm phong theo quy định bên trong chứa: 01 (một) mảnh giấy gói màu hồng, trên một mặt có các chữ cái và 01 (một) phong bì thư niêm phong.
01 phong bì hình chữ nhật, kích thước (11x18)cm, được niêm phong đúng quy định, bên trong có chứa 01 (một) que test ma túy.
Tang vật trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/9/2022, giữa Công an thị xã Thái Hoà và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà.
-Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 - BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Trương V K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Công an thị xã Thái Hòa; - VKSND thị xã Thái Hòa; - Chi cục THADS thị xã Thái Hòa; - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; -Lưu HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Thái Thị Hà |