vanban.org

Bản án 63/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 27/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ph m Văn C ph m tội “Đánh b c”.

X ph t: Bị cáo Ph m Văn C 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian th thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án s th m (27/12/2022). Giao bị cáo Ph m Văn C cho Ủy ban nhân dân ã H, huyện C, tỉnh An Giang giám sát giáo d c trong thời gian th thách. Gia đ nh của bị cáo Ph m Văn C có trách… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn C phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ph m Văn C ph m tội “Đánh b c”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật h nh s; Điều 321 Bộ luật h nh s; Điều 1 Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2022/HS-ST
Ngày: 27 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Triều;

Bà Lê Nguyễn Huỳnh Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Pha, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Giàu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2022, t i Ph ng án T a án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp t

công khai v án h nh s s th m th lý số: 48 2022 TL T-H ngày 09 11 2022 theo Quyết định đưa v án ra t số 53 2022 QĐXX T-HS ngày 02/12 2022, đối v i bị cáo:

Họ và tên: Ph m Văn C, sinh năm 1973, t i tỉnh An Giang; gi i tính: Nam; đăng ký hộ kh u thường trú: ố 535, ấp T, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở: ố 535, ấp T, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08 12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không có; con ông: Ph m Văn (đã chết) và bà: Nguyễn Thị V (đã chết); có vợ nhưng đã ly hôn; có 01 con, sinh năm 1999; tiền án: Không có; tiền s : Ngày 29 5 2021 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân ã H, huyện C, tỉnh An Giang ph t 1.500.000 đồng về hành vi đánh b c trái ph p theo Quyết định ph t vi ph m hành chính số 115406 QĐ-XPVPHC (Nộp ph t ngày 15 7 2021). T m giữ, t m giam: Không. Bị cáo đang bị áp d ng biện pháp cấm đi khỏi n i cư trú, hiện bị cáo đang t i ngo i; bị cáo C có mặt t i phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Lê Trường V, sinh năm 2003; địa chỉ cư trú: ố 519 ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Anh V vắng mặt không rõ lý do).

2/ Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1968; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Anh B vắng mặt không rõ lý do).

3/ Anh La Văn H, sinh năm 1976; địa chỉ cư trú: Ấp B, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Anh H vắng mặt không rõ lý do).

4/ Anh Hồ Văn , sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. (Anh S có mặt t i phiên t a).

5/ Anh Đinh Công T, sinh năm 1981; địa chỉ cư trú: ố 140 ấp N, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Anh T có mặt t i phiên t a).

6 Chị Nguyễn Thị Thảo N, sinh năm 2003; địa chỉ cư trú: Ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Chị N vắng mặt không rõ lý do).

7/ Chị Phan C m Đ, sinh năm 1971; địa chỉ cư trú: ố 109 ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Chị Đ vắng mặt không rõ lý do).

8/ Anh Bùi Văn P, sinh năm 1991; địa chỉ cư trú: Ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Anh P vắng mặt không rõ lý do).

- Người làm chứng:

1/ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963; địa chỉ cư trú: ố 460 ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Bà T vắng mặt không rõ lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ s v án và quá trình xét hỏi, tranh luận t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Ph m Văn C đã bị ph t 1.500.000đ về hành vi đánh b c theo Quyết định ph t vi ph m hành chính số 115406 QĐ-XPHC ngày 29 5 2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân ã H, huyện C, tỉnh An Giang (nộp ph t ngày 15 7 2021) nhưng không chịu ăn năn, s a đổi mà tiếp th c hiện hành vi đánh b c. C thể, vào khoảng 16 giờ ngày 16 3 2022, Ph m Văn C cùng Đinh Công T, La Văn H, Nguyễn Thị Thảo N, Lê Trường V, Phan C m Đ, Bùi Văn P, Nguyễn Văn B, Hồ Văn tham gia lắc tài ỉu được thua bằng tiền t i khu đất trống phía sau nhà của bà Nguyễn Thị T ng số 460, ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp th bị Công an xã M đến bắt quả tang, thu giữ 01 dĩa sứ, 01 nắp nh a, 03 hột í ngầu và 100.000đ trên chiếu b c.

Qua giai đo n điều tra, Ph m Văn C khai do biết được khu đất trống phía sau nhà của bà Nguyễn Thị T có lắc tài ỉu được thua bằng tiền nên Cần mang theo 70.000 đồng đến địa điểm trên để tham gia đánh b c. Lúc này, Hồ Văn làm cái đứng lắc cùng nhiều người khác; cách thức thắng thua tài ỉu gồm 03 hột í ngầu có 06 mặt, màu trắng, có nút từ 01 đến 06 có màu đỏ và đen, để trong ch n sành có nắp đậy, người làm cái lắc các hột í ngầu. au đó tính tổng số điểm trên 03 hột í ngầu. Nếu từ 01 đến 10 điểm là ỉu, c n 11 đến 18 điểm là tài. Cái bão là khi 03 hột í ngầu cùng một mặt. Cái bão ỉu th thắng tất cả những người đặt bên tài, h a v i những người đặt bên ỉu và ngược l i. Mỗi người tham gia đặt cược từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng và tùy ý người tham gia đặt cược.

Theo lời khai của Cần và những người bị bắt quả tang ác định: Cần mang theo 70.000 đồng để tham gia lắc tài ỉu được thua bằng tiền, ván thứ nhất Cần đặt bên tài 20.000 đồng, ván thứ hai Cần đặt bên tài 50.000 đồng, kết quả hai ván bị thua th bị bắt quả tang. Lê Trường V tham gia đặt cược ba ván, ván thứ nhất 60.000 đồng bị thua, ván thứ hai thắng 80.000 đồng, ván thứ 3 đặt 80.000 đồng th bị bắt quả tang. Nguyễn Văn B tham gia đặt một ván bên ỉu 50.000 đồng, h a v i nhà cái th bị bắt quả tang. La Văn H tham gia đặt hai ván, mỗi ván 20.000 đồng, h a v i nhà cái th bị bắt quả. Hồ Văn làm cái, thắng được 200.000 đồng. Đinh Công T tham gia đặt hai ván, ván thứ nhất đặt 50.000 đồng bị thua, ván thứ hai đặt 50.000 đồng thắng th bị bắt quả tang. Bùi Văn P tham đặt cược sáu ván, mỗi ván 20.000 đồng, kết quả thua 40.000 đồng. Phan C m Đ đặt cược được 07 ván, thua hết 150.000 đồng, ván cuối đặt 30.000 đồng thua thì bị bắt quả tang. Nguyễn Thị Thảo N tham gia đặt cược hai ván, mỗi ván 20.000 đồng, kết quả h a v i nhà cái th bị bắt quả tang. Khu đất trống phía sau nhà của bà Nguyễn Thị T ng số 460, ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp n i diễn ra hành vi đánh b c của Cần và những người bị bắt quả tang do Thủy quản lý s d ng, những người đánh b c t ý đến tham gia, bà T không thu lợi từ việc đánh b c.

T i Cáo tr ng số: 41/CT-VKSLVo ngày 08/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp quyết định truy tố bị cáo Ph m Văn C ra Tòa án nhân dân huyện L về tội “Đánh b c” theo quy định t i khoản 1 Điều 321 của Bộ luật H nh s .

T i phiên t a:

Bị cáo Ph m Văn C khai nhận đã th c hiện hành vi như Cáo tr ng nêu, bị cáo không thắc mắc khiếu n i g về nội dung Cáo tr ng, hành vi tố t ng, quyết định tố t ng của c quan tiến hành tố t ng trong quá tr nh điều tra, truy tố; t i phần tranh luận bị cáo C cũng không phát biểu tranh luận v i Kiểm sát viên, và lời nói sau cùng của bị cáo là in Hội đồng t giảm nhẹ h nh ph t cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan anh Hồ Văn và Đinh Công T trình bày: Anh S và anh T giữ nguyên ý kiến như lời khai của m nh khi làm việc t i C quan Công an từ khi bị bắt quả tang tham gia đánh b c cho đến nay, anh S, anh T không không thắc mắc khiếu n i g về nội dung Cáo tr ng, hành vi tố t ng, quyết định tố t ng của c quan tiến hành tố t ng trong quá tr nh điều tra, truy tố.

Anh S thừa nhận m nh có hành vi đánh b c ăn thua bằng tiền và bị bắt quả tang cùng v i bị cáo C vào ngày 16/3/2022. Anh S là người làm cái, bị cáo C có tham gia, nhưng đặt bao nhiêu ván, thắng thua như thế nào th anh S không rõ. Ngoài ra, anh S thừa nhận anh S có đưa tiền cái bão (tiền âu) cho một đối tượng, nhưng ang không rõ người đó là ai, thông tin họ tên, lai lịch ra sao. ố tiền ang dùng để b c là 200.000 đồng. Anh S đã bị ph t hành chính về hành vi đánh b c đã nêu và nay anh S cũng đồng ý nộp l i số tiền trên để sung vào ngân sách nhà nư c.

Anh T thừa nhận m nh có hành vi đánh b c ăn thua bằng tiền và bị bắt quả tang cùng v i bị cáo C vào ngày 16/3/2022. Anh T tham gia đặt, người làm cái là anh Hồ Văn , anh T chỉ thấy bị cáo C có tham gia đặt cùng, nhưng đặt bao nhiêu ván, thắng thua như thế nào th anh S không rõ. ố tiền Th nh dùng để b c là 100.000 đồng. Anh T đã bị ph t hành chính về hành vi đánh b c đã nêu và nay anh T cũng đồng ý nộp l i số tiền trên để sung vào ngân sách nhà nư c.

Đ i diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố t i phiên t a vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Ph m Văn C đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh b c”.

Trên c sở phân tích tính chất nguy h i do hành vi ph m tội của bị cáo gây ra, nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tội ph m, nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng t áp d ng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; và Điều 65 Bộ luật h nh s

ph t bị cáo Ph m Văn C mức h nh ph t từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian th thách là 01 (một) năm đến 01 (một) 06 (sáu) tháng và áp d ng h nh ph t bổ sung đối v i bị cáo theo quy định t i khoản 3 Điều 321 Bộ luật h nh s , c thể ph t tiền từ 10.000.000 đến 15.000.000 đồng. Về lý vật chứng, giữ nguyên đề nghị như nội dung Cáo tr ng số 41/CT-VKSLVo ngày 08/11 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan; Người làm chứng vắng mặt t i phiên t a, đã cung cấp lời khai cho các C quan tố t ng trong quá tr nh điều tra, truy tố của v án, nội dung lời khai của những người này phù hợp v i diễn biến s việc, lời khai của bị cáo, và những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có mặt t i phiên t a.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s v án đã được th m tra, t hỏi, tranh luận t i phiên t a, Hội đồng t nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố t ng của C quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã th c hiện đúng về th m quyền, tr nh t , thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng h nh s . Trong quá tr nh điều tra, truy tố và t i phiên t a, bị cáo, cũng như những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có mặt đã không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của C quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của C quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã th c hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan anh La Văn H, anh Lê Trường V, anh Bùi Văn P, và người làm chứng bà Nguyễn Thị T đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên t a nhưng vắng mặt và có đ n in t vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan anh Đinh Công T, chị Nguyễn Thị Thảo N, chị Phan C m Đ, anh Nguyễn Văn B, anh Hồ Văn đều được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên t a nhưng vắng mặt không rõ lý do. Tất cả đều có lời khai t i C quan tiến hành tố t ng ở giai đo n điều tra, truy tố nên khi cần thiết Hội đồng t sẽ công bố lời khai của những người này và vẫn tiến hành t vắng mặt họ là phù hợp v i quy định t i Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố t ng h nh s .

. Bị cáo Ph m Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi ph m tội của m nh, bị cáo thừa nhận, mặc dù Ph m Văn C đã bị ph t vi ph m hành chính về hành vi đánh b c ăn thua bằng tiền, chưa hết thời h n được coi là chưa bị lý vi ph m hành chính nhưng không chịu ăn năn, hối cải mà tiếp t c đánh b c. C thể, vào khoảng 16 giờ ngày 16 3 2022, Ph m Văn C cùng Đinh Công T, La Văn H, Nguyễn Thị Thảo N, Lê Trường V, Phan C m Đ, Bùi Văn P, Nguyễn Văn B, Hồ Văn tham gia lắc tài ỉu được thua bằng tiền t i khu đất trống phía sau nhà của bà Nguyễn Thị T, v i tổng số tiền dùng để đánh b c là 370.000đ th bị bắt quả tang.

Lời thừa nhận tội của bị cáo t i phiên t a phù hợp v i lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan; người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ s v án được thu thập trong giai đo n điều tra, truy tố. Bị cáo cũng thống nhất v i nội dung cáo tr ng, luận tội của Kiểm sát viên, t i phần tranh luận bị cáo đã không phát biểu tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo là in Hội đồng t giảm nhẹ h nh ph t cho bị cáo. Hành vi của bị cáo phù hợp v i hành vi khách quan của tội “Đánh b c” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật H nh s .

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Bị cáo đã th c hiện hành vi t i thời điểm bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm h nh s và có đủ năng l c trách nhiệm h nh s . Bị cáo có đủ khả năng nhận thức được hành vi đánh b c được th c hiện dư i bất kỳ h nh thức nào v i m c đích ăn, thua bằng tiền hay hiện vật mà không được c quan nhà nư c có th m quyền cho ph p là vi ph m pháp luật. Thế nhưng, v i m c đích sát ph t nhau, tư lợi và nhằm lấy tiền, tài sản từ người khác, nên bị cáo đã cố ý th c hiện.

Về tính chất mức độ của hành vi: Tuy hành vi của bị cáo C là ít nghiêm trọng, nhưng đã âm ph m trật t công cộng, gây ảnh hưởng ấu đến trật t an toàn ã hội t i địa phư ng. V vậy việc đưa bị cáo ra t công khai là cần thiết, thể hiện s nghiêm minh của pháp luật, đồng thời nhằm m c đích giáo d c ph ng ngừa chung cho ã hội. Hội đồng t cần phải áp d ng mức h nh ph t thích đáng, tư ng ứng v i hành vi ph m tội của bị cáo gây ra.

Bị cáo ph m tội nhưng không có t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh s .

T nh tiết giảm nhẹ: Quá tr nh điều tra, truy tố và t i phiên t a, bị cáo C luôn có thái độ thành kh n khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo ph m tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; ngoài ra bị cáo là người thờ cúng liệt sĩ đây là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s cho bị cáo mà Hội đồng t

em t áp d ng theo quy định t i các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật H nh s .

X t thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, có hai t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s được quy định t i điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật h nh s ; có n i cư trú c thể, rõ ràng; và có khả năng t cải t o, việc áp d ng h nh ph t tù đối v i bị cáo là cần thiết nhưng nếu không bắt bị cáo đi chấp hành h nh ph t tù cũng không gây nguy hiểm cho ã hội, không ảnh hưởng ấu đến N, trật t , an toàn xã hội và công tác đấu tranh ph ng chống tội ph m. V vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi ã hội một thời gian mà nên cho bị cáo được hưởng án treo dư i s giám sát, giáo d c của chính quyền địa phư ng n i cư trú để t o điều kiện cho bị cáo t cải t o m nh trở thành người công dân có ý thức tuân thủ pháp luật và có ích cho ã hội.

Về h nh ph t bổ sung: Theo quy định t i khoản 3 Điều 321 của Bộ luật H nh s th : “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đó, bị cáo C có thể bị áp d ng h nh ph t bổ sung là h nh ph t tiền. X t thấy, hành vi ph m tội của bị cáo C v i m c đích sát ph t nhau để thu lợi bất chính và bị cáo không thuộc diện hộ nghèo hoặc cận nghèo hoặc người cao tuổi. Do đó, Hội đồng t thống nhất áp d ng h nh ph t bổ sung là h nh ph t tiền đối v i bị cáo.

. Cáo tr ng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Ph m Văn C về tội “Đánh b c” được quy định t i khoản 1 Điều 321 Bộ luật h nh s là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng t chấp nhận. X t đề nghị của Viện kiểm sát về việc áp d ng các t nh tiết giảm nhẹ và h nh ph t là phù hợp nên chấp nhận.

. Về lý vật chứng: Đối v i số tiền 100.000 đồng thu trên chiếu b c, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nư c; Và đối v i 01 dĩa sứ, 01 nắp nh a, 03 hột í ngầu là công c ph m tội nên tiêu hủy theo quy định t i điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật H nh s và điểm b, c khoản 2, Điều 106 của Bộ luật Tố t ng h nh s .

Đối v i lời khai ban đầu của Đinh Công T, Phan C m Đ, Lê Trường V cho rằng Hùng tổ chức đánh b c, Nguyễn Văn n (tên thường gọi là Cam) canh đường, Nguyễn Văn Loang thu xâu. Tuy nhiên, sau đó và t i phiên t a (không có mặt t i phiên t a) Th nh, Vũ, Đặc thay đổi lời khai không ác định chính ác có hay không việc Hùng, n, Loang tổ chức đánh b c, chỉ nghe người khác (không rõ ai) nói l i. Qua điều tra, và t i phiên t a Hồ Văn khai có đưa tiền âu cho Loang, nhưng không rõ thông tin về lai lịch của người này. Hiện La Văn H không thừa nhận hành vi tổ chức đánh b c, Hùng chỉ đến địa điểm trên để đánh b c. Hùng, Loang, n không có tiền án, tiền s về hành vi đánh b c, gá b c hay tổ chức đánh b c. Hiện Loang, n không có mặt ở địa phư ng, C quan điều tra chưa làm việc được. Do đó, không c n chứng cứ nào khác chứng minh Hùng, Loang, n tổ chức đánh b c nên không đủ căn cứ để kết luận Hùng, Loang, n có th c hiện hành vi tổ chức đánh b c nên không xem xét.

Đối v i Đinh Công T, La Văn H, Hồ Văn , Nguyễn Thị Thảo N, Lê Trường V, Phan C m Đ, Bùi Văn P, Nguyễn Văn B có hành vi cùng tham gia lắc tài ỉu thắng thua bằng tiền nhưng không có tiền án, tiền s về hành vi đánh b c, tổ chức đánh b c hay gá b c nên Công an huyện L đã ra quyết định ph t vi ph m hành chính. Tuy nhiên, Công an huyện L chưa tịch thu số tiền mà Th nh, Hùng, ang, Nguyên, Vũ, Đặc, Phư ng, Bí đã khai nhận dùng vào việc đánh b c để sung quỹ nhà nư c. Do đó, Hội đồng t

t thấy cần buộc những người này nộp l i để tịch thu sung vào ngân sách nhà nư c đối v i số tiền nêu trên theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích nêu trên, cho thấy đề nghị của Đ i diện Viện kiểm sát về tội danh, t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh s , mức h nh ph t chính và mức h nh ph t bổ sung đối v i bị cáo là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng t chấp nhận.

. Bị cáo Ph m Văn C bị kết tội, nên phải chịu án phí h nh s s th m theo quy định t i khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố t ng h nh s và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội.

. Bị cáo; những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan được quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật h nh s ; các điều 2, 4, 5, 6 Nghị quyết 02 2018 NQ-HĐTP, ngày 15 5 2018 của Hội đồng Th m phán T a án nhân dân tối cao, được s a đổi, bổ sung theo Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15 4 2022 của Hội đồng Th m phán T a án nhân dân tối cao.

- Tuyên bố: Bị cáo Ph m Văn C ph m tội “Đánh b c”.

- X ph t: Bị cáo Ph m Văn C 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian th thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án s th m (27/12/2022).

Giao bị cáo Ph m Văn C cho Ủy ban nhân dân ã H, huyện C, tỉnh An Giang giám sát giáo d c trong thời gian th thách. Gia đ nh của bị cáo Ph m Văn C có trách nhiệm phối hợp v i Ủy ban nhân dân xã H trong việc giám sát, giáo d c bị cáo C.

Trong thời gian th thách, người được hưởng án treo thay đổi n i cư trú th th c hiện theo quy định t i Điều 92 của Luật thi hành án h nh s .

Trong thời gian th thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi ph m nghĩa v theo quy định của Luật thi hành án h nh s 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành h nh ph t tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp th c hiện hành vi ph m tội m i th T a án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành h nh ph t của bản án trư c và tổng hợp h nh ph t của bản án m i theo quy định t i Điều 56 của Bộ luật h nh s .

- Ph t bổ sung đối v i bị cáo Ph m Văn C số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nư c.

2. Về vật chứng

- Tịch thu tiêu hủy: 01 dĩa ứ, 01 nắp nh a, 03 hột í ngầu dùng vào việc ph m tội.

- Tịch thu sung quỹ nhà nư c số tiền 100.000 đồng (Một trăm ngh n đồng) thu trên chiếu b c.

Các vật chứng nêu trên đang do Chi c c Thi hành án dân s huyện L giữ theo Biên bản giao nhận tang vật, tài sản lập ngày 24/11/2022 giữa C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L v i Chi c c Thi hành án dân s huyện L.

- Buộc Lê Trường V nộp l i số tiền 160.000 đồng (Một trăm sáu mư i ngh n đồng) dùng vào việc đánh b c để sung ngân sách nhà nư c.

- Buộc Nguyễn Văn B nộp l i số tiền 50.000 đồng (Năm mư i ngh n đồng) dùng vào việc đánh b c để sung ngân sách nhà nư c.

- Buộc La Văn H nộp l i số tiền 40.000 đồng (Bốn mư i ngh n đồng) dùng vào việc đánh b c để sung ngân sách nhà nư c.

- Buộc Hồ Văn nộp l i số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngh n đồng) dùng vào việc đánh b c để sung ngân sách nhà nư c.

- Buộc Đinh Công T nộp l i số tiền 100.000 đồng (Một trăm ngh n đồng) dùng vào việc đánh b c để sung ngân sách nhà nư c.

- Buộc Nguyễn Thị Thảo N nộp l i số tiền 40.000 đồng (Bốn mư i ngh n đồng) dùng vào việc đánh b c để sung ngân sách nhà nư c.

3. Về án phí: Áp d ng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố t ng h nh s và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội;

Buộc bị cáo Ph m Văn C phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngh n đồng) án phí h nh s s th m.

4. Bị cáo; và những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan Hồ Văn , Đinh Công T có mặt t i phiên t a, được quyền kháng cáo bản án này trong h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối v i những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan La Văn H, Nguyễn Thị Thảo N, Lê Trường V, Phan C m Đ, Bùi Văn P, Nguyễn Văn B vắng mặt t i phiên t a được quyền kháng cáo bản án này trong h n 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đ t tr c tiếp hay niêm yết cho họ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định t i Điều 2 của Luật Thi hành án dân s , th người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân s ; Thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định t i Điều 30 của Luật thi hành án dân s .

Cỡ chữ