vanban.org

Bản án 63/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 29/09/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Thùy L .

Chị Vũ Thị Thùy L được ly hôn anh Trần Minh H. Về con chung: Giao cháu Trần Hữu Minh Q, sinh ngày 25/7/2014 cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Thùy L .
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HUẾ
TỈNH THỪA THIÊNHUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29/9/2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vỵ và bà Trần Thị Thanh Xuân.

-Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền Trang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Đông, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế (số 60 Nguyễn Huệ - Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 473/2022/TLST-HNGĐ ngày 07/7/2022; Về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2022/QĐST- HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 175/2022/QĐST- HNGĐ ngày 17 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Thùy L, sinh năm 1994; địa chỉ: 06 đường L, phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

Bị đơn: Anh Trần Minh H, sinh năm 1994; địa chỉ: 01 đường T, phường T, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 21/6/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Vũ Thị Thùy L đều trình bày:

Chị và anh Trần Minh Hưng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T (P cũ), thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 26/4/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc được 03 năm, đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm sống, anh H ít có trách nhiệm gia đình, thỉnh thoảng mới đưa tiền về phụ giúp nuôi con, ngoài ra anh H còn nghiện ma túy, làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên vợ chồng chị đã sống ly thân từ cuối năm 2017 cho đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị khởi kiện xin ly hôn anh H để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị L khai chị và anh H có 01 con chung là Trần Hữu Minh Q, sinh ngày 25/7/2014, hiện đang ở với chị. Chị L có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Q và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con do thu nhập của chị ổn định, đủ điều kiện chăm sóc con tốt.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Minh H không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án, không đến Toà án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Tại phiên toà, anh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Tại bản tự khai ngày 07/9/2022, ông Vũ Thọ G (bố của chị L) trình bày: Chị L và anh H chung sống với nhau không có hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hòa hợp nên vợ chồng sống ly thân đã hơn hai năm nay.

Tại biên bản xác minh ngày 05/8/2022, chính quyền địa phương phường T cho biết:Anh H và chị L kết hôn hợp pháp tại UBND phường T (P cũ), thành phố Huế vào ngày 26/4/2014. Khi còn chung sống với nhau, thì vợ chồng anh H chị L thường xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân đã hơn hai năm nay. Chị L cùng con chuyển ra Quảng Trị sinh sống còn anh H sống cùng cha mẹ ruột tại 01 đường T, phường T, thành phố Huế. Nay chị L xin ly hôn anh H thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin ly hôn anh Trần Minh H, xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế có ý kiến:

[1] Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

- Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Quyền và nghĩa vụ của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử không thực hiện đúng các quy định tại khoản 16 Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 58, Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự: Áp dụng Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 217, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội để giải quyết theo hướng: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Vũ Thị Thùy L.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Thùy L được ly hôn anh Trần Minh H.

Về con chung: Giao cháu Trần Hữu Minh Q, sinh ngày 25/7/2014 cho chị Vũ Thị Thùy L chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị L không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết nên Viện kiểm sát không xem xét.

Về án phí: Buộc chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Vũ Thị Thùy L khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Trần Minh H. Anh H có nơi cư trú: Số 01 đường T, phường T, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Huế thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Minh H và chị Vũ Thị Thùy L có quá trình chung sống với nhau, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T (P cũ), thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 26/4/2014 (số 31, ngày 26/4/2014). Như vậy, hôn nhân giữa anh H và chị L là hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị Thùy L , Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo trình bày của chị L thì nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm sống, anh H nghiện ma túy, không lo làm ăn, sống không có trách nhiệm với gia đình, vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2017 đến nay là phù hợp với xác minh tại chính quyền địa phương phường Tây Lộc, thành phố Huế xác nhận “hiện nay chị L đã ra Quảng Trị sinh sống gần 02 năm nay, hiện không còn chung sống với anh H tại 01 đường T, phường T, thành phố Huế ”. Như vậy, có cơ sở xác định đời sống chung hiện nay giữa anh H và chị L không tồn tại.

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Toà án đã nhiều lần tống đạt giấy triệu tập, nhưng anh Hưng vẫn không đến Toà án để làm việc, hòa giải và không tham gia xét xử tại phiên tòa, không liên lạc với chị L là thể hiện sự bỏ mặc, không có thiện chí mong muốn để hòa giải đoàn tụ gia đình, nên mục đích hôn nhân là không thể đạt được.

Xét thấy hôn nhân giữa anh H và chị L đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận đơn của chị L, cho chị L được ly hôn anh H.

Về con chung: Chị L và anh H có một con chung là Trần Hữu Minh Q, sinh ngày 25/7/2014, hiện cháu Q đang ở với chị L.

Xét yêu cầu được trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của chị L, Hội đồng xét xử thấy rằng: Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng chị L và anh H do không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm sống, anh Hưng nghiện ma túy, không lo làm ăn, sống không có trách nhiệm với gia đình; Tại Bản tự khai ngày 07/9/2022 của cháu Trần Hữu Minh Q thể hiện nội dung: Nếu ba mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng sống với mẹ. Nhằm để đảm bảo sự phát triển bình thường, ổn định tâm lý và phù hợp với nguyện vọng của cháu cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không gây xáo trộn việc hiện nay cháu Q đang ở với chị L, nên Hội đồng xét xử cần phải giao cháu Trần Hữu Minh Q cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Do chị L không yêu cầu anh Hưng cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Do chị L và anh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Chị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm gồm 300.000 đồng.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Thùy L .

Chị Vũ Thị Thùy L được ly hôn anh Trần Minh H.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Hữu Minh Q, sinh ngày 25/7/2014 cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.

Anh H chưa thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2004; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Do chị Vũ Thị Thùy L và anh Trần Minh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí:

Án phí ly hôn: Chị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm gồm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0003522 ngày 07/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế. Chị L đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh TTHuế;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND thành phố Huế;

- Chi cục Thi hành án TP Huế;

- Các đương sự;

- UBND phường T, TP Huế

- Lưu hồ sơ, lưu dán.

Nguyễn Thị Huế

Cỡ chữ