vanban.org

Bản án 63/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Trần Thị Phương D đối với Ông Phan Hồng S về việc ly hôn.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Bà Trần Thị Phương D và Ông Phan Hồng S. Về nuôi con chung: Bà Trần Thị Phương D và Ông Phan Hồng S có hai con chung là Phan Trần Hoàng Ph, sinh ngày 03/01/2008 và Phan Trần Bảo Tr, sinh ngày 09/9/2010. Giao con chung tên Phan Trần Hoàng Ph, sinh ngày 03/01/2008 và … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Phương D 'Ly hôn" Phan Hồng S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Trần Thị Phương D đối với Ông Phan Hồng S về việc ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN LỨC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 19-8-2022
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC - TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thu Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Luân.

2. Bà Lê Thị Kim Thoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Thanh Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Ngày 19 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 134/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2022/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Phương D, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Ấp 1B, xã A, huyện B, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Phan Hồng S, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Ấp 9, xã L, huyện B, tỉnh Long An.

(Bà D có đơn xin xét xử vắng mặt, ông S vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 25/01/2022, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Bà Trần Thị Phương D trình bày:

Do quen biết và được gia đình hai bên đồng ý nên vào năm 2006 bà và Ông Phan Hồng S xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/12/2006.

Sau khi cưới vợ chồng chung sống tại ấp 1B, xã A, huyện B, tỉnh Long An. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng bà đã ly thân 07 tháng nay. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Sang.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống bà và ông S có 02 con chung tên Phan Trần Hoàng Ph, sinh ngày 03/01/2008 và Phan Trần Bảo Tr, sinh ngày 09/9/2010. Hiện con chung đang sống với bà, khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung tên Phan Trần Hoàng Ph và Phan Trần Bảo Tr, bà không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Sự việc đã được Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập thủ tục hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn Ông Phan Hồng S vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án.

Nguyên đơn Bà Trần Thị Phương D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu xét xử vắng mặt. Ông S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Bà Trần Thị Phương D khởi kiện yêu cầu ly hôn với Ông Phan Hồng S, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện Bến Lức thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

Nguyên đơn Bà Trần Thị Phương D có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn Ông Phan Hồng S đã được Tòa án thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt Bà Dvà ông Sang.

Về nội dung tranh chấp:

Xét thấy, Bà Trần Thị Phương D và Ông Phan Hồng S do quen biết và được gia đình hai bên đồng ý, đã xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2006, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/12/2006, hôn nhân của Bà Dvà ông S là hợp pháp. Bà Dvà ông S do quen biết và đi đến hôn nhân, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Theo bà Dung, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng bà đã ly thân 07 tháng nay. Ông S vắng mặt và không thể hiện ý kiến về yêu cầu ly hôn của bà Dung. Xét thấy tình cảm vợ chồng của Bà Dvà ông S đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, yêu cầu của Bà Dđược ly hôn với ông S phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

Về nuôi con chung: Bà Dvà ông S xác định quá trình chung sống bà Dung, ông S có 02 con chung tên Phan Trần Hoàng Ph, sinh ngày 03/01/2008 và Phan Trần Bảo Tr, sinh ngày 09/9/2010. Xét thấy, cháu Phúc và cháu Trân đang sống cùng bà Dung, tại bản tự khai của cháu Phúc và cháu Trân thì nguyện vọng của cháu Phúc và cháu Trân là sống cùng với bà Dung, ông S vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ nào thể hiện ý kiến về việc nuôi con chung. Do đó, để đảm bảo sự phát triển ổn định về môi trường sinh hoạt của cháu Phúc và cháu Trân, Bà Dyêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là phù hợp nên được chấp nhận. Ghi nhận sự tự nguyện của Bà Dkhông yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Do ông S không có văn bản gì trình bày vấn đề này, Bà Dxác định không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu các đương sự có tranh chấp, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có đơn yêu cầu

Về án phí: Buộc Bà Trần Thị Phương D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Trần Thị Phương D đối với Ông Phan Hồng S về việc ly hôn.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Bà Trần Thị Phương D và Ông Phan Hồng S.

Về nuôi con chung: Bà Trần Thị Phương D và Ông Phan Hồng S có hai con chung là Phan Trần Hoàng Ph, sinh ngày 03/01/2008 và Phan Trần Bảo Tr, sinh ngày 09/9/2010. Giao con chung tên Phan Trần Hoàng Ph, sinh ngày 03/01/2008 và Phan Trần Bảo Tr, sinh ngày 09/9/2010 cho Bà Trần Thị Phương D trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của Bà Dkhông yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con nên ông S không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Bên không nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Toà án có thể thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

2. Về án phí: Bà Trần Thị Phương D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008617 ngày 14/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức. Bà Dđã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ