- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Cty Galaxy - E"
- Tòa quyết gì? sự năm 2015; Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 63/2022/DS-ST Ngày: 19 / 8 / 2022 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thế Mỹ
2. Bà Trần Thị Ánh Hằng
- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Toà án nhân dân thành
phố K, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K, tỉnh An Giang tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố K xét xử
sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 117/2022/TLST-DS ngày 27 tháng 6
năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 105/2022/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 7 năm 2022,
Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 15/TB-TA ngày 27/7/2022 và Thông báo
mở lại phiên tòa số 21/TB-MLPT ngày 05/8/2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH Mua Bán Nợ Galaxy (gọi tắt Công ty
Galaxy), trụ sở chính: số 5 đường D1, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí
Minh.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Chức vụ:
Giám đốc; địa chỉ liên hệ: số 5 đường D1, phường L, thành phố T, thành phố Hồ
Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Công ty luật TNHH Đại Long, địa chỉ: Số 81,
Nguyễn Hiền, phường N, quận N, thành phố Cần Thơ (có ông Huỳnh Minh
Triết là đại diện theo pháp luật);
Đại diện theo ủy quyền của Công ty luật TNHH Đại Long: Ông Trần Hữu
Ý - Chức vụ: Nhân viên, địa chỉ: F2-73, đường Nguyễn Thị Sáu, phường Phú Thứ, quận C, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Trương Đức E, sinh năm 1977, sinh năm 1976, địa chỉ: tổ 11,
khóm C, phường C, thành phố K, tỉnh An Giang.
Ông Ý có mặt, ông E vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn tại phiên tòa trình bày: Vào ngày 26/8/2017, ông Trương Đức E có ký hợp đồng tín dụng số 20170830-0000658 với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC vay số tiền 31.650.000 (Ba mươi một triệu sáu trăm năm mươi nghìn) đồng với lãi suất thỏa thuận 2,63% tháng, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân.
Theo thoả thuận trong hợp đồng, ông E có trách nhiêm thanh toán số tiền
46.919.776 (Bốn mươi sáu triệu chín trăm mười chín nghìn bảy trăm bảy mươi sáu) đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 30 tháng; 29 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.537.478 (Một triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn bốn trăm bảy mươi tám) đồng, tháng cuối cùng trả 2.332.914 (Hai triệu ba trăm ba mươi nghìn chín trăm mười bốn) đồng, bắt đầu từ ngày 12/10/2017.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông E đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá
nhân và thanh toán cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC được 12 lần với tổng số tiền là 20.140.434 (Hai mươi triệu một trăm bốn mươi nghìn bốn trăm ba mươi bốn) đồng. Kể từ ngày 20/10/2018 đến nay, ông E không thanh toán nợ cho Công ty.
Ngày 30/3/2021, khoản nợ của ông E được Công ty tài chính TNHH MTV
Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (nay là Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC chuyển nhượng cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ Galaxy theo hợp đồng mua bán nợ số VPBFC- CEOO-21-0003.
Do ông E trễ hạn thanh toán nên Công ty TNHH Mua Bán Nợ Galaxy khởi
kiện yêu cầu ông Trương Đức E thanh toán toàn bộ số tiền nợ là 26.779.342 (Hai mươi sáu triệu bảy trăm bảy mươi chín nghìn ba trăm bốn mươi hai) đồng (trong đó nợ gốc là 21.379.645 đồng, nợ tiền lãi là 5.399.697 đồng) (tính đến ngày 12/3/2020).
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu
cầu khởi kiện là: Đơn Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 20170830-0000658 ngày 26/8/2017, bảng kế hoạch trả nợ, lịch sử thanh toán, Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-21-0003 ngày 29/3/2021 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
- Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông
Trương Đức E trình bày: Ông có ký hợp đồng vay với Công ty tài chính TNHH
Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC số tiền 31.650.000 (Ba mươi một
triệu sáu trăm năm mươi nghìn) đồng, lãi suất 2,63% tháng để tiêu dùng cá
nhân. Theo thoả thuận trong hợp đồng, ông E có trách nhiệm thanh toán số tiền
46.919.776 đồng (gồm cả gốc và lãi). Sau khi vay, ông E trả cho Công ty số tiền
20.140.434 đồng và còn nợ số tiền 26.425.781 đồng. Kể từ ngày 20/10/2018 ông
E không trả nợ cho đến nay.
Ngày 29/3/2021, khoản nợ của ông E được Công ty tài chính TNHH MTV
Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (nay là Công ty tài chính TNHH Ngân hàng
Việt Nam Thịnh Vượng SMBC bán cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ Galaxy.
Ông E thống nhất, xác định và đồng ý trả số nợ còn lại là 26.779.342 đồng
(trong đó nợ gốc là 21.379.645 đồng và tiền lãi 5.399.697 đồng) cho Công ty
TNHH Mua Bán Nợ Galaxy. Do hiện nay ông E chưa có công việc làm, thu
nhập không ổn định nên không có khả năng thanh toán nợ một lần cho Công ty
TNHH Mua Bán Nợ Galaxy. Khi nào có tiền ông E sẽ trả dứt số tiền 26.779.342
đồng cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ Galaxy.
Tòa án tiến hành mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
giữa các đương sự nhưng không thành.
Tại phiên tòa,
- Đại diện nguyên đơn yêu cầu ông Trương Đức E trả một lần số tiền
26.779.342 đồng (trong đó nợ gốc là 21.379.645 đồng và tiền lãi 5.399.697
đồng).
- Chủ tọa công bố lại lời khai của ông E.
- Ý kiến của Kiểm sát viên:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong
thời gian chuẩn bị xét xử đúng pháp luật: Thẩm phán được phân công thụ lý giải
quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 BLTTDS. Xác định
thẩm quyền thụ lý, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của các đương
sự, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết giải quyết vụ án
và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 195, 196, 198, 203 và 208 Bộ luật
Tố tụng Dân sự năm 2015.
Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố
tụng Dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự đã thực
hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng
mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt
bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về giải quyết vụ án: Năm 2017, ông Trương Đức E ký kết Hợp đồng tín
dụng với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Thịnh Vượng SMBC vay
31.650.000 đồng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Ngày 29/3/2021,
Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Thịnh Vượng SMBC bán toàn bộ dư nợ của
ông E cho Công ty Galaxy, như vậy Công ty Galaxy là người thế quyền. Do ông E không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi là vi phạm thỏa thuận theo hợp đồng, vì vậy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Trương Đức E phải thanh toán vốn gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng số tiền 26.779.342 đồng là có căn cứ, phù hợp quy định tại các Điều 365, 463, 466, 468, 450 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng
vay tài sản với bị đơn là ông Trương Đức E có nơi cư trú tại thành phố Châu Đốc nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố K theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm g khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn ông Trương Đức E đã được
Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Cho nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông E theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
* Về nội dung:
Về hợp đồng tín dụng:
Căn cứ Văn bản đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng 20170830-
0000658 ngày 26/8/2017; bảng kế hoạch trả nợ, lịch sử thanh toán thì Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC cho ông E vay số tiền 31.650.000 (Ba mươi một triệu sáu trăm năm mươi nghìn) đồng với lãi suất thỏa thuận 2,63% tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thoả thuận trong hợp đồng, ông E có trách nhiệm thanh toán số tiền 46.919.776 (Bốn mươi sáu triệu chín trăm mười chín nghìn bảy trăm bảy mươi sáu) đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 30 tháng; 29 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.537.478 (Một triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn bốn trăm bảy mươi tám) đồng, tháng cuối cùng trả 2.332.914 (Hai triệu ba trăm ba mươi nghìn chín trăm mười bốn) đồng, bắt đầu từ ngày 12/10/2017. Ông E có trả được 12 lần số tiền 20.140.434 đồng. Tính đến ngày 12/3/2020 ông E còn nợ 26.779.342 đồng (trong đó nợ gốc là 21.379.645 đồng và tiền lãi 5.399.697 đồng).
Ông Trương Đức E xác định có ký hợp đồng vay tiền với Công ty tài
chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC. Quá trình vay không thực hiện việc trả nợ theo thỏa thuận. Ngân hàng đã bán khoản nợ lại cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ Galaxy và Công ty Galaxy khởi kiện yêu cầu ông E trả khoản nợ còn lại, ông E đồng ý nhưng xin trả dần cho đến khi hết vì hiện nay chưa có việc làm ổn định.
Xét, giữa Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng
SMBC và ông E có giao kết các hợp đồng tín dụng để ông E vay tiền. Hợp đồng giữa các bên được ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các
bên theo hợp đồng. Quá trình vay do ông E không thực hiện việc trả nợ theo
thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là vi phạm nghĩa vụ của bên vay.
Ngày 29/3/2021, Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh
Vượng SMBC đã bán khoản nợ vay của ông E cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ
Galaxy theo hợp đồng mua bán nợ số VPBFC- CEOO-21-0003, với số dư nợ là
26.779.342 đồng (trong đó vốn gốc là 21.379.645 đồng và tiền lãi 5.399.697
đồng) nên công ty TNHH Mua Bán Nợ Galaxy có quyền yêu cầu ông E thanh
toán nợ theo hợp đồng vay. Quá trình thu hồi nợ Công ty Galaxy đã nhiều lần
nhắc nhở nhưng ông E không trả nên Công ty Galaxy đã khởi kiện. Việc Công
ty Galaxy khởi kiện yêu cầu ông E trả số tiền nợ còn lại 26.779.342 đồng là có
căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 365, Điều 450, Điều 463, Điều 466 và
Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc ông Trương Đức E trả cho Công ty Galaxy số tiền 26.779.342 đồng
(trong đó vốn gốc là 21.379.645 đồng và tiền lãi 5.399.697 đồng).
Nếu quá hạn thỏa thuận hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành
án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi
hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức
lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về phương thức thanh toán ông E xin trả dần nhưng không được
nguyên đơn chấp nhận nên không có căn cứ để xem xét.
Về án phí:
Bị đơn có trách nhiệm trả nợ cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn mua bán
nợ Galaxy nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.338.967 đồng.
Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu kiện nên không phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí lại cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 365, Điều 450, Điều 463, Điều 466 và 468 Bộ luật Dân
sự năm 2015; Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm
2010; các Điều 147 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều
26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu
hạn mua bán nợ Galaxy.
Buộc ông Trương Đức E trả cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn mua bán
nợ Galaxy số tiền 26.779.342 (Hai mươi sáu triệu, bảy trăm bảy mươi chín nghìn, ba trăm bốn mươi hai) đồng (trong đó vốn gốc là 21.379.645 đồng và tiền lãi 5.399.697 đồng).
Kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi
hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2] Án phí:
Ông Trương Đức E phải chịu 1.338.967 (Một triệu, ba trăm ba mươi tám
nghìn, chín trăm sáu mươi bảy) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ Galaxy không phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ Galaxy số tiền 669.484 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0002267 ngày 27 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.
[3] Quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Công ty Trách nhiệm hữu hạn
mua bán nợ Galaxy có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Thời hạn kháng cáo của ông Trương Đức E là 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát TPCĐ (2); - Tòa án tỉnh An Giang (1); - Thi hành án DS TPCĐ (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1), - Lưu văn phòng (1). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Ngọc |