- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2021/HS-ST Ngày: 18- 3 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Xuân Giới
2. Bà Vũ Thị Thơ
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Phương Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Quyên - Kiểm sát viên sơ cấp.
Trong ngày 18 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2021/TLST- HS ngày 05 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2021/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn D (tên gọi khác: Không); Sinh ngày: 05 tháng 7 năm 1995 tại tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: bản N, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Lường Văn T (Sinh năm: 1968); Họ tên mẹ: Cà Thị D, sinh năm: 1970; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 20/12/2020 đến ngày 29/12/2020 chuyển sang tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
- Người chứng kiến:
+ Anh Bùi Huy H, sinh năm: 1989; Trú tại: tổ 52, khu 4, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
+ Anh Vũ Ngọc A, sinh năm: 1979; Trú tại: tổ 2, khu 3, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 00 phút ngày 19/12/2020 tại khu vực đường Trần Quốc N thuộc tổ 8, khu 1, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Tổ công tác Công an phường B, thành phố H bắt quả tang Lường Văn D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ tại túi áo khoác bên trái D đang mặc 03 gói giấy, bên trong chứa chất bột màu trắng (ký hiệu M1, M2, M3)
Tại Bản kết luận giám định số: 101 ngày 25/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu giữ của Lường Văn D 03 (ba) gói giấy bên trong có chứa chất bột màu trắng được ký hiệu (M1, M2, M3) gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tổng trọng lượng là 0,147 gam (Không phảy một bốn bảy gam). Hoàn lại đối tượng giám định: M1: 0,01gam.
Quá trình điều tra, Lường Văn D khai: D là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 19/12/2020, D đến khu vực chân cầu núi B, phía sau chợ H rồi thuê một chiếc đò đi ra biển, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi ra đến biển, D đến gần một chiếc đò gặp và mua của một phụ nữ không quen biết 03 gói ma túy với giá 300.000đ. Sau khi mua được ma túy, D cất giấu vào trong túi áo khoác rồi đi đò vào bờ. Khi D đi đến khu vực chân cầu núi B thì bị Công an bắt giữ.
Tại Bản cáo trạng số: 40/CT- VKSHL ngày 03/02/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Lường Văn D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đưa ra các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Bị cáo Lường Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lường Văn D từ: 12 (Mười hai) tháng tù đến 15 (Mười lăm) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định hoặc tịch một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.
Về vật chứng:
Đề nghị áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự,
Tịch thu tiêu hủy: 0,01 gam ma túy, loại Heroine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số: 101/KLGĐ ngày 25/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.
Tại phiên tòa bị cáo Lường Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cơ bản như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Lời nói sau cùng: bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố cơ bản đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình tiến hành tố tụng không ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Chứng cứ, tài liệu do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập đều hợp pháp và đảm bảo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ, các hành vi tố tụng được đảm bảo hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Lường Văn D thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL: 22 – 23); Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL: 25); Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định (BL: 27); Kết luận giám định (BL: 28); lời khai người chứng kiến (BL: 67 – 76) và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ 00 phút, ngày 19/12/2020, tại khu vực đường Trần Quốc N thuộc tổ 8, khu 1, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Lường Văn D có hành vi tàng trữ trái phép 0,147 gam ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an phường B, thành phố H phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi của bị cáo Lường Văn D đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Lường Văn D nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện có tác hại nhiều mặt, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe bản thân người sử dụng, đồng thời ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, đến an ninh trật tự xã hội, từ ma túy sẽ kéo theo nhiều tệ nạn trong xã hội. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vì coi thường pháp luật nên bị cáo đã bất chấp. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo lần đầu phạm tội, chưa có tiền án tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy trước khi phạm tội, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 0,01gam ma túy, loại Heroine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số: 101/KLGĐ ngày 25/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh thu giữ trong vụ án là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự,
Xử phạt: Bị cáo Lường Văn D: 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 20/12/2020.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự,
Tịch thu tiêu hủy: 0,01 gam Heroine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số: 101/KLGĐ ngày 25/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số:105/BB- THA ngày 23/02/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Quảng Ninh).
Căn cứ vào: khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc bị cáo Lường Văn D phải chịu: 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào: Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Cơ quan điều tra CA tp H; - Cơ quan THAHS tp H; - Chi cục THADS tp H; - VKSND tp H; - Trại tạm giam CAQN; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hùng |