- Tranh chấp gì? án hình sự — "MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! !!!!QUẬN!THỐT!NỐT! ! THÀNH!PHỐ!CẦN!THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2021/HS-ST. Ngày: 09-9-2021. |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!QUẬN!THỐT!NỐT!-!THÀNH!PHỐ!CẦN!THƠ
-!Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thúy Kiên.
2. Bà Thái Ánh Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Điêu Khắc Khanh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Minh Thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2021, đối với bị cáo:
Lê!Văn!N - sinh năm 1999; nơi đăng ký thường trú: khu vực A, phường B, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Hòa hảo; quốc tịch: Việt N; con ông Lê Văn T - sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị T - sinh năm 1978; Tiền án: chưa; Tiền sự: 01 lần. Vào ngày 01/09/2020, bị Toà án nhân dân quận Thốt Nốt, ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 12 tháng, do N bỏ trốn nên chưa thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/5/2021 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an quận Thốt Nốt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Trường G – sinh năm 1980. Địa chỉ: khu vực C, phường D, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Xin vắng mặt.
- Người làm chứng: Huỳnh Thị T – sinh năm 1994. Địa chỉ: khu vực E, phường F, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt không rõ lý do.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 40 phút ngày 12/5/2021 đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Thốt Nốt bắt quả tang Lê Văn N có hành vi mua bán trái phép chất ma túy tại khu vực E, phường F, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Tang vật thu giữ gồm: 04 (bốn) gói nilon bên trong chứa chất tinh thể không màu; 02 (hai) cây khò; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 02 (hai) cây nỏ thủy tinh; 03 (ba) cây kéo bằng kim loại; 23 (hai mươi ba) gói nilon không màu hàn kín một đầu; 14 (mười bốn) thẻ card Mobiphone mệnh giá 50.000đồng đã sử dụng; 11 (mười một) thẻ card Vinaphone mệnh giá 50.000đồng đã sử dụng; 02 (hai) ống hút nhựa cắt xéo một đầu; 01 (một) chai gas mini; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung cảm ứng màu đen; 01 (một) cây cân tiểu ly;
Tại Kết luận giám định số: 179/KLGĐ-PC09 ngày 18 tháng 05 năm 2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ kết luận: Gói 1: Tinh thể không màu trong gói nylon (Ký hiệu M1) gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0392 gam; Gói 2: Tinh thể không màu trong gói nylon (Ký hiệu M2) gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,7140 gam; Gói 3: Tinh thể không màu trong gói nylon (Ký hiệu M3) gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1238 gam; Gói 4: Tinh thể không màu trong gói nylon (Ký hiệu M4) gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0376 gam; Tổng khối lượng bốn gói là: 0,9146 gam, là mà túy, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra N khai nhận 04 gói ma túy bị công an thu giữ là của N mua ngày 12/5/2021 để sử dụng và bán lại cho những người nghiện để kiếm lời. N sử dụng ma túy tù năm 2019 và bắt đầu mua bán trái phép chất ma túy từ năm 2020. Để có ma túy sử dụng và bán lại N đã nhiều lần mua ma túy của người đàn ông tên Đen (không rõ họ tên, địa chỉ) ở thành phố Hồ Chí Minh và người đàn ông tên Minh (không rõ họ tên, địa chỉ) ở Rạch Rích phường Thạnh Hòa, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ với giá từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng bằng hình thức điện thoại thông qua mạng Zalo. Sau đó, N phân chia thành nhiều gói nhỏ để bán lại cho những người sử dụng ma túy, trong đó bán ma túy cho Nguyễn Trường G được 4 lần với số tiền 100.000 đồng/01 lần. Vào ngày 12/5/2021, Lê Văn N sử dụng mạng Zalo có tài khoản “Thuy N” điện thoại cho người đàn ông tên Đen hỏi mua ma tuý với giá 500.000 đồng. Đen đồng ý bán cho N, thông qua người đàn ông (không rõ họ, tên và địa chỉ) giao ma tuý cho N. Sau khi nhận gói ma tuý mua của Đen, N mang về phòng trọ tại khu E, phường F, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ, phân ra thành 04 (bốn) gói nhỏ và bán cho Nguyễn Trường G 01 gói với giá là 100.000 đồng, sau đó N lấy gói ma tuý bán cho G bỏ vào nỏ thuỷ tinh cùng với Nguyễn Trường G và Huỳnh Thị T (là bạn gái của Lê Văn N) sử dụng tại phòng trọ của N thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Nguyễn Trường G khai nhận mua ma túy của Lê Văn N để sử dụng 04 lần với giá 100.000 đồng/01 lần nhưng chưa trả tiền cho N và G đã giao nộp 400.000 đồng tiền mua ma túy của Lê Văn N.
Tại Cáo trạng số 69/CT-VKSTN ngày 02 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố Lê Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, bị cáo cũng không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm; đồng thời phát biểu quan điểm luận tội phân tích hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bị cáo Lê Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Văn N với mức án từ 08 đến 09 năm tù. Hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo nộp phạt bổ sung số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số 179G2/KL-PC09 và 01 (một) gói niêm phong số 179G23/KL-PC09 ngày 18/5/2021của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ có chứa ma túy còn lại sau giám định; 02 cây khò; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 02 cây nỏ thủy tinh; 03 cây kéo bằng kim loại; 23 gói nilon không màu hàn kín một đầu; 14 thẻ card Mobiphone mệnh giá 50.000 đồng đã sử dụng; 11 thẻ card Vinaphone mệnh giá 50.000 đồng đã sử dụng; 02 ống hút nhựa cắt xéo một đầu; 01 chai gas mini và 01 cân tiểu ly.
+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung loại cảm ứng màu đen, màn hình bể của Lê Văn N sử dụng liên lạc mua bán ma túy.
+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 đồng tiền mua ma túy do Nguyễn Trường G tự nguyện nộp.
- Về án phí: bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Đối với hành vi sử dụng ma túy của Nguyễn Trường G, Huỳnh Thị Thủy, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Riêng đối với người tên Đen, Minh đã bán ma túy cho Lê Văn N và người đàn ông giao ma tuý cho N do N không biết rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên chưa tiến hành làm việc được, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi đã phạm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:!
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận Thốt Nốt, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Xét, tại phiên tòa có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Tuy nhiên, do trong quá trình điều tra đã thu thập được lời khai của những người vắng mặt nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.
[3] Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ như các biên bản về hoạt động điều tra, các biên bản ghi lời khai, biên bản khám xét và kết luận giám định. Như vậy, có cơ sở xác định ngày 12/5/2021 bị cáo Lê Văn N đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Trường G với khối lượng ma túy bị thu giữ là 0.9146 gam loại Methamphetamine và quá trình điều tra đã chứng minh được Lê Văn N đã bán ma túy cho G được 04 lần. Hành vi sai trái mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khoẻ nhưng không chịu khó phấn đấu sống lành mạnh, lại tiêm nhiểm thói hư tật xấu, sa đà vào nghiện ngập. Mặc dù hoàn toàn nhận thức được tác hại của chất ma túy và biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng chỉ vì hám lợi và để có ma túy sử dụng bị cáo đã bất chấp pháp luật Nhà nước nghiêm cấm, nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy; xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Ngoài ra, ma tuý còn là hiểm hoạ, là nguyên nhân gây ra sự suy thoái về đạo đức, lối sống; ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, sức khỏe, sự phát triển nòi giống của dân tộc và đời sống văn hóa lành mạnh của nhân dân; đồng thời cũng là nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội khác. Do đó, cần thiết phải xử lý nghiêm để đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật cũng như đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Về nhân thân: bị cáo có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chưa được xóa.
[6] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo có thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt.
[8] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000 đồng”. Do vậy, nghĩ nên buộc bị cáo nộp phạt bổ sung số tiền 5.000.000 đồng là phù hợp.
[9] Về xử lý vật chứng: như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Đối với hành vi sử dụng ma túy của Nguyễn Trường G, Huỳnh Thị Thủy, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định là phù hợp nên không đề cập xử lý.
[11] Riêng đối với người tên Đen, Minh đã bán ma túy cho Lê Văn N và người đàn ông giao ma tuý cho N do chưa xác định được nhân thân, địa chỉ cụ thể nên cần kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định.
[12] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT!ĐỊNH:
Căn cứ: điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm g khoản 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
* Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn N 08 (tám) năm tù . Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 12/5/2021.
Hình phạt bổ sung: buộc bị cáo Lê Văn N nộp phạt số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số 179G2/KL-PC09 và 01 (một) gói niêm phong số 179G23/KL-PC09 cùng ngày 18/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ có chứa ma túy còn lại sau giám định; 02 cây khò; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 02 cây nỏ thủy tinh; 03 cây kéo bằng kim loại; 23 gói nilon không màu hàn kín một đầu; 14 thẻ card Mobiphone mệnh giá 50.000 đồng đã sử dụng; 11 thẻ card Vinaphone mệnh giá 50.000 đồng đã sử dụng; 02 ống hút nhựa cắt xéo một đầu; 01 chai ga mini và 01 cân tiểu ly.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung loại cảm ứng màu đen, màn hình bể.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 đồng tiền mua ma túy do Nguyễn Trường G tự nguyện nộp.
Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ đối với người tên Đen, Minh đã bán ma túy cho Lê Văn N và người đàn ông giao ma tuý cho N để xử lý theo quy định.
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Văn N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
* Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi"nhận:""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!
- TAND TP. Cần Thơ;
THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!
- VKSND quận Thốt Nốt;
- Công an quận Thốt Nốt;
- Chi cục THA DS quận Thốt Nốt;
(Đã bán)
- Bị cáo;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Huỳnh!Thị!Mộng!Tuyền! !! !