- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đặng Văn Q phạm tội - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2021/HS-ST Ngày: 25 - 11 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC -TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Mai Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Hồng Phúc
Ông Dương Quang Lương
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Tiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2021/TLST-HS, ngày 28 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2021/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Đặng Văn Q, sinh ngày 05 tháng 9 năm 1983; nơi sinh và cư trú: Thôn 5, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Anh X và bà Cao Thị T; có vợ: Bùi Thị H và 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26 tháng 7 năm 2021 đến nay (có mặt).
Người chứng kiến: Ông Nguyễn Đình A, sinh năm 1968 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đặng Văn Q là đối tượng nghiện chất ma túy Heroine từ đầu năm 2020. Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 26 tháng 7 năm 2021, Q đang ở khu vực chợ V, thuộc thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma túy nhưng không mua được thì có người nam giới khoảng 25 đến 30 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch) đi xe mô tô Honda Dream (không rõ biển kiểm soát) rủ Q về huyện Y để mua ma túy sử dụng, Q đồng ý và người nam giới này điều khiển xe mô tô chở Q về huyện Y. Trên đường đi, Q nghe thấy người này gọi điện thoại cho ai đó hỏi mua 200.000đ tiền ma túy. Người này chở Q về khu vực đền T, thuộc thôn B, xã T, huyện Y. Tại đây, người này bảo Q đi bộ vào khu vực cổng đền T để mua ma túy. Khi Q đến nơi thì gặp người nam giới (không rõ nhân thân, lai lịch), Q hỏi mua của người này 200.000đ tiền ma túy, người này nhận tiền và đưa cho Q 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong đựng 01 gói ma túy Heroine. Sau khi người này đi thì Q bị Tổ công tác của Công an huyện Yên Lạc kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng vụ án: Thu tại túi áo phía trước bên trái của Q 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong đựng 01 gói nhỏ bọc nilon, trong cùng là chất bột cục màu trắng, niêm phong gói nhỏ này có ký hiệu A1. Ngoài ra, thu của Q 01 điện thoại di động Vivo màu đen, viền xanh (đã cũ).
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã gửi mẫu có ký hiệu A1 đi giám định.
Tại Kết luận giám định số: 1762/KLGĐ, ngày 29 tháng 7 năm 2021, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chất bột cục màu trắng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1621g (Không phảy một sáu hai một gam, không kể bao bì), loại Heroine.
Bản cáo trạng số: 60/CT-VKS, ngày 27 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố bị cáo Đặng Văn Q, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý ” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đặng Văn Q. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Văn Q từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý về vật chứng.
Bị cáo nói lời sau cùng: Tôi biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho tôi để tôi có cơ hội sửa chữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Lạc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 26 tháng 7 năm 2021, tại thôn B, xã T, huyện Y, Tổ công tác của Công an huyện Yên Lạc bắt quả tang Đặng Văn Q đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ 01 gói ma túy, có khối lượng 0,1621g, loại Heroine. Nguồn gốc gói ma túy trên, Q khai do Q mua của người nam giới nhưng không rõ nhân thân, lai lịch ở tại thôn B, xã T, huyện Y, để sử dụng.
Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ, nên có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Đặng Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 249 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy… thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01năm đến 05 năm:
a)………………………………………
………………………………………...
c) Heroine,… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam ”.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm lớn cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân thì thấy bị cáo là con em gia đình cơ bản, nhưng bị cáo không chịu rèn luyện bản thân, sống đua đòi với những thành phần xấu nên nghiện chất ma túy từ đầu năm 2020 đến nay không từ bỏ được. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Song, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có bố đẻ được tặng Huy chương Kháng chiến hạng nhất. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên cần được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, không có tài sản gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Trong vụ án này, còn người nam giới chở Q đi mua ma túy và người nam giới bán ma túy cho Q ngày 26/7/2021, tại thôn B, xã T, huyện Y. Tuy nhiên, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của những người này. Vì vậy, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát xác định không có cơ sở để xác minh, làm rõ nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
Về vật chứng: Sau khi giám định được hoàn trả đối tượng giám định còn lại, gồm: A1 = 0,1280g mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ” là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động Vivo màu đen, viền xanh (đã cũ) là tài sản thuộc sở hữu của Q, không sử dụng vào việc phạm tội, được trả lại cho Q nhưng cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Đặng Văn Q phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt: Bị cáo Đặng Văn Q 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 7 năm 2021.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu đối tượng còn lại sau giám định được hoàn lại, gồm: A1 = 0,1280g mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ” để tiêu hủy.
Trả lại cho Đặng Văn Q 01 chiếc điện thoại di động Vivo màu đen, viền xanh (đã cũ), nhưng cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đặng Văn Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo Đặng Văn Q; - Viện kiểm sát ND huyện Yên Lạc; - Viện kiểm sát ND tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an huyện Yên Lạc; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Trại Tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Chi cục Thi hành án DS huyện Yên Lạc; - Ủy ban nhân dân xã H; - Sở Tư pháp Vĩnh Phúc; - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Mai Hương |