- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn M và Đoàn Văn S phạm tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động v…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn M, Đoàn Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
- Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2021/HS - ST Ngày: 08 - 07 - 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN – TỈNH NINH BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Khắc Thái.
Ông Hà Quang Văn.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Duy- Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 07 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2021/TLST- HS ngày 25 tháng 05 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 06 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Bùi Văn M, sinh năm 1955 tại tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: thôn L, xã L, huyện Q, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Thiên chúa giáo; trình độ văn hoá: 7/10; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông Bùi Văn  và bà Bùi Thị Đ; vợ Nguyễn Thị L và có 04 con (con lớn sinh năm 1978, con nhỏ sinh năm 1987); tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
2. Đoàn Văn S, sinh năm 1972 tại tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: thôn C, xã L, huyện Q, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Thiên chúa giáo; trình độ văn hoá: 7/10; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông Đoàn Văn S và bà Bùi Thị V; vợ Nguyễn Thị Nh và có 03 con (con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2011); tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Trần Văn C, sinh năm 1992; chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1976
Cùng trú tại: thôn Th, xã L, huyện Q, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn M ngoài công việc chính là làm ruộng còn làm thêm nghề nấu cao ngựa tại gia đình. Vào đầu tháng 11 năm 2020 khi Bùi Văn M đang ở nhà thì có một người nam giới tự giới thiệu tên là Tuấn nhà ở thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (M không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) điều khiển xe ô tô tải màu xanh (M không xác định được biển kiểm soát) đi đến nhà M để mua cao ngựa. Sau khi mua được cao ngựa, người đàn ông tên Tuấn đã đặt vấn đề nhờ M tìm mua 01 con Sơn dương để lấy thịt thì M đồng ý. Bùi Văn M và người đàn ông tên Tuấn thỏa thuận giá Sơn dương với mức là 270.000 đồng/kg, người đàn ông tên Tuấn đã đặt cọc cho M số tiền 4.600.000 đồng, đồng thời cho M số điện thoại 0919.961.912 (M lưu trong danh bạ điện thoại là “Tuấn p lý”) để liên lạc.
Sau đó Bùi Văn M sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 206 màu đen, lắp sim số 0982.845.772 gọi điện vào điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150 màu đen, lắp sim số 0962.066.135 của Đoàn Văn S để nhờ S tìm mua cho M 01 con Sơn dương để bán cho khách nhằm hưởng chênh lệch để kiếm lời. M thỏa thuận với S tiền lợi nhuận từ việc bán Sơn dương cả hai sẽ chia đôi thì S đồng ý.
Đoàn Văn S truy cập mạng Internet để tìm hiểu thì liên hệ được với 01 người nam giới tự giới thiệu tên là Bình ở tỉnh Nghệ An (Sơn không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) có bán Sơn dương. S sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150 màu đen, lắp sim số 0962.066.135 gọi vào số điện thoại của người nam giới tên Bình (S không xác định được số điện thoại cụ thể) để hỏi mua Sơn dương thì người này nói có 01 con Sơn dương nặng 60kg bán với giá 250.000đồng/kg, thành tiền là 15.000.000đồng, S đồng ý mua. Sau khi liên hệ tìm mối mua được Sơn dương, S gọi điện thoại lại thông báo cho Bùi Văn M biết, đồng thời thông báo về giá cả mà S đã thỏa thuận với người nam giới tên Bình như trên thì M đồng ý.
Đến sáng ngày 08/11/2020, người nam giới tên Bình sử dụng số điện thoại (không xác định được cụ thể) gọi vào điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150 màu đen, lắp sim số 0962.066.135 để thông báo về việc Bình sẽ gửi Sơn dương đã thịt sẵn qua xe khách chạy từ Nghệ An ra thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. S thỏa thuận với người nam giới tên Bình là sau khi nhận, kiểm tra và bán được Sơn dương sẽ thanh toán tiền cho Bình bằng hình thức gửi tiền trực tiếp thông qua xe khách chạy ngược lại vào tỉnh Nghệ An thì người nam giới tên Bình đồng ý.
Khoảng 10 giờ cùng ngày, Đoàn Văn S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HonDa Wave @, BKS: 35N1-122.78 đi ra khu vực ngã 3 Chợ chiều thuộc phường Tân Bình, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình để chờ đón xe khách lấy Sơn dương do người nam giới tên Bình gửi. Khi S đang đứng bên đường đợi thì nhìn thấy 01 xe khách (S không xác định được tên nhà xe, biển kiểm soát) đi theo hướng từ phía tỉnh Thanh Hóa ra tỉnh Ninh Bình có ghi dòng chữ “Nghệ An - Hải Phòng”, S đã vẫy chiếc xe khách trên thì xe này dừng lại. Lúc này có 01 người nam giới là phụ xe khách đi xuống hỏi S: “Lấy hàng từ Nghệ An đúng không” thì S trả lời: “Phải”. Sau đó người này lấy từ trong cốp xe ô tô trên 02 bao tải xác rắn màu xanh đưa cho S. S nhận 02 bảo tải trên rồi để lên xe mô tô chở về cất giấu trong nhà tắm của gia đình S. Lúc này Đoàn Văn S mở 01 bao xác rắn ra kiểm tra thấy bên trong có 01 đầu, 04 cẳng chân và nửa thân trước, xác định đúng là thịt Sơn dương nên S đã buộc bao tải lại như cũ và gọi điện thoại cho Bùi Văn M thông báo về việc đã mua được thịt Sơn dương như yêu cầu. Sau khi được S thông báo, M sử dụng điện thoại lắp sim của mình nêu trên gọi vào số điện thoại 0919.961.912 thông báo cho người nam giới tên Tuấn về việc đã mua được Sơn dương và hẹn Tuấn đến khu vực đường Nhà thờ thôn An Ngải, xã Quảng Lạc, huyện Nho Quan để nhận Sơn dương.
Khoảng 13 giờ cùng ngày, Bùi Văn M đi xe đạp của mình đi ra đoạn đường Nhà thờ thôn An Ngải, xã Quảng Lạc, huyện Nho Quan để chờ người nam giới tên Tuấn, đồng thời lúc này M gọi điện cho Đoàn Văn S, bảo S chở Sơn dương ra điểm hẹn để giao cho khách.
Đến khoảng 13 giờ 45 cùng ngày, Đoàn Văn S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HonDa Wave @, BKS: 35N1-122.78 chở 02 bao xác rắn màu xanh mà S nhận được từ người đàn ông tên Bình, trong đó 01 bao để tại giá để hàng giữa xe mô tô và 01 bao xác rắn để tại phía trên yên xe đi đến đoạn đường Nhà thờ thôn An Ngải, xã Quảng Lạc, huyện Nho Quan đã gặp Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế Công an tỉnh Ninh Bình và Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Nho Quan đang làm nhiệm vụ kiểm tra phương tiện vận tải theo thủ tục hành chính. Quá trình kiểm tra xe mô tô nhãn hiệu HonDa Wave @, BKS: 35N1-122.78 do Đoàn Văn S điều khiển đã phát hiện trên xe có 02 bao tải xác rắn bên trong có nhiều bộ phận là cá thể động vật bị cắt rời các bộ phận đầu, thân, 04 cẳng chân, S không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ. Đoàn Văn S khai nhận với Tổ công tác đó là 02 bao tải chứa thịt Sơn dương của S và M đang trên đường vận chuyển để giao cho khách.
Lúc này Bùi Văn M đang đứng đợi S ở bên đường cách một đoạn gần đó và người nam giới tên Tuấn cũng vừa đến điểm hẹn để gặp M thì quan sát thấy Đoàn Văn S bị Tổ công tác dừng xe kiểm tra phương tiện và bị thu giữ 02 bao tải đựng Sơn dương nên M đi xe đạp về nhà, còn người nam giới tên Tuấn lên xe ô tô (không xác định đặc điểm, biển kiểm soát) bỏ đi nơi khác.
Tổ Công tác yêu cầu Đoàn Văn S chở 02 bao tải nêu trên về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Quảng Lạc, huyện Nho Quan làm việc và đã tiến hành cân các bộ phận động vật chứa trong 02 chiếc bao tải xác rắn thu giữ của Đoàn Văn S có tổng khối lượng 60kg. Sau khi cân đã tiến hành niêm phong các bộ phận động vật nêu trên gồm: Đầu, 02 thân (trước và sau) và 04 chân vào 02 thùng xốp có KT(47x66x42)cm và KT(57x46x42)cm theo đúng quy định của pháp luật để gửi trưng cầu giám định về động vật.
Tại bản Kết luận giám định động vật số 809/STTNSV ngày 10/11/2020 của Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam kết luận:
“ - Tên loài: 01 cá thể động vật đã bị cắt rời gồm đầu, thân trước, thân sau và 04 (bốn) cẳng chân có khối lượng 60kg là của loài Sơn dương, có tên khoa học Capricornis milneedwardsii (Naemorhedus milneedwardsii), thuộc lớp thú Mammalia, Họ Trâu bò Boviae.
- Tình trạng bảo tồn: Loài Sơn dương Capricornis milneedwardsii (Naemorhedus milneedwardsii) có tên trong Phục lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ) và đồng có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Ban hành kèm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ). Loài Sơn dương Capricornis milneedwardsii (Naemorhedus milneedwardsii) có tên trong Phục lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) (Ban hành kèm theo Thông báo số 296/TB-CTVN-HTQT ngày 27/11/2019, của Cơ quan quản lý CITES Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn).”
Tại bản cáo trạng số 55/CT - VKSNQ ngày 25/05/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan đã truy tố các bị cáo Bùi Văn M, Đoàn Văn S về tội: “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn M, Đoàn Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
Áp dụng: điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt:
Bị cáo Bùi Văn M từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù; cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 36 (Ba mươi sáu) tháng đến 48 (Bốn tám) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Quảng Lạc, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục. Phạt bổ sung bị cáo từ 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng) đến 60.000.000đồng (Sáu mươi triệu đồng).
Bị cáo Đoàn Văn S từ 12 (Mười hai) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 24 (Hai mươi bốn) tháng đến 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Quảng Lạc, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục. Phạt bổ sung bị cáo từ 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng) đến 60.000.000đồng (Sáu mươi triệu đồng).
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 4.600.000đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 150 màu đen, lắp sim số 0962.066.135; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 206 màu đen, lắp sim số 0982.845.772. Tịch thu tiêu hủy 02 bao tải xác rắn màu xanh đều có KT(102x63)cm; 01 cá thể Sơn dương đã bị cắt rời gồm: đầu, thân trước, thân sau và 04 (bốn) cẳng chân có tổng khối lượng 60kg và hai phong bi niêm phong điện thoại đã thu giữ.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến bào chữa tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã ra các quyết định tố tụng; thực hiện đúng, đầy đủ các hành vi tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; các chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp đều hợp pháp.
Tại phiên tòa các bị cáo khai và thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định: Do khách có nhu cầu hỏi mua thịt Sơn dương, Bùi Văn M rủ và bàn bạc với Đoàn Văn S mua 01 cá thể Sơn dương về bán cho khách nhằm mục đích kiếm lời. Hồi 13 giờ 45 phút ngày 08/11/2020 tại khu vực đường thôn An Ngải, xã Quảng Lạc, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, Đoàn Văn S có hành vi sử dụng xe mô tô chở 02 bao tải xác rắn bên trong có chứa 01 cá thể Sơn dương đã bị cắt rời (gồm: đầu, thân trước, thân sau và 04 cẳng chân) có tổng khối lượng 60kg để mang ra giao cho Bùi Văn M để M đem bán cho khách. Cá thể Sơn dương mà Bùi Văn M, Đoàn Văn S buôn bán trái phép có tên khoa học là Capricornis milneedwardsii (Naemorhedus milneedwardsii). Loài Sơn dương trên có tên trong Phục lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo quy định của Chính phủ. Đồng thời còn có tên trong Phục lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự thì “Người nào buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”. Hội đồng xét xử kết luận: Các bị cáo Bùi Văn M, Đoàn Văn S, phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng, bị cáo Bùi Văn M tự nguyện nộp số tiền do phạm tội mà có nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tội danh, loại mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ. Khi áp dụng mức hình phạt cần cân nhắc trong vụ án, bị cáo Bùi Văn M là người rủ rê, thỏa thuận ăn chia với Đoàn Văn S trong việc mua bán Sơn dương; bị cáo Đoàn Văn S là người thực hành giúp sức nên cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo M nặng hơn bị cáo S. Xét các bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị kết án và xử lý vi phạm hành chính, luôn chấp hành tốt chủ trương chính sách pháp luật của nhà nước, phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn hạn chế và không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử phạt tù cho các bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thách đối với các bị cáo là đủ điều kiện răn đe, giáo dục các bị cáo. Các bị cáo phạm tội có tính chất tư lợi nên cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số tiền 4.600.000đồng do các bị cáo phạm tội mà có; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 150 màu đen của bị cáo Đoàn Văn S, lắp sim số 0962.066.135 của chị Nguyễn Thị Nh đã cho S sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 206 màu đen, lắp sim số 0982.845.772 của Bùi Văn M là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Hai bao tải xác rắn màu xanh đều có KT(102x63)cm là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng; 01 cá thể Sơn dương đã bị cắt rời gồm: đầu, thân trước, thân sau và 04 (bốn) cẳng chân có tổng khối lượng 60kg (Đang bảo quản tại Trung tâm cứu hộ, bảo tồn sinh vật- Vườn quốc gia Cúc Phương) là vật cấm tàng trữ, lưu hành và hai phong bì niêm phong điện thoại đã thu giữ không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc xe HonDa Wave @, BKS: 35N1-122.78 là tài sản hợp pháp của anh Trần Văn Cảnh, anh Cảnh không biết các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan công an đã trả cho anh Cảnh là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo Bùi Văn M là người cao tuổi được miễn án phí, bị cáo Đoàn Văn S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn M, Đoàn Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
2. Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt:
- Bị cáo Bùi Văn M 18 (Mười tám) tháng tù; cho hưởng án treo; thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Q, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Phạt bổ sung 60.000.000đồng (Sáu mươi triệu đồng).
- Bị cáo Đoàn Văn S 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Q, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Phạt bổ sung 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng).
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 4.600.000đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 150 màu đen, lắp sim số 0962.066.135; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 206 màu đen, lắp sim số 0982.845.772. Tịch thu tiêu hủy hai bao tải xác rắn màu xanh đều có KT(102x63)cm không còn giá trị sử dụng; 01 cá thể Sơn dương đã bị cắt rời gồm: đầu, thân trước, thân sau và 04 (bốn) cẳng chân có tổng khối lượng 60kg và hai phong bì niêm phong điện thoại đã thu giữ.
(Chi tiết theo giấy ủy nhiệm chi giữa Công an tỉnh Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nho Quan và biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Nho Quan và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nho Quan).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Đều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, áp dụng Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đoàn Văn S phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí cho bị cáo Bùi Văn M.
Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đ-ược thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND huyện Nho Quan; - THADS huyện Nho Quan; - CA huyện Nho Quan; - Những người TGTT; - Lưu./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) NGUYỄN ANH TUẤN |