vanban.org

Bản án 63/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Tuyên án 25/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì hoàn trả mẫu vật sau giám định số 911/GĐKTHS ngày 02-7-2021; 01 túi niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 912/GĐKTHS ngày 02-7-2021 và 01 t…

Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Duy M phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần duy M - Bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì hoàn trả mẫu vật sau giám định số 911/GĐKTHS ngày 02-7-2021; 01 túi niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 912/GĐKTHS ngày 02-7-2021 và 01 t…
  • Căn cứ chính? Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2021/HS-ST
Ngày: 25-8-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Thanh Giang;

Ông Tống Thái Dương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Hà Viết Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2021, tại Hội trường Ủy ban nhân dân thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2021, đối với bị cáo:

Lê Duy M, sinh ngày 06-01-1990 ; nơi cư trú: Số 3/139 đường N, phường Đ, quận H, thành phố P; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn:12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc T (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; vợ là Lương Thị N; có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 01-7-2021, chuyển tạm giam từ ngày 10-7-2021 cho đến nay; “có mặt”.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Khắc S; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ ngày 30-6-2021, tổ tuần tra của Đồn biên phòng Quất Lâm phối hợp cùng Phòng phòng chống ma tuý và tội phạm Bộ đội biên phòng tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tại thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thuỷ phát hiện Lê Duy M đang dừng xe ô tô BKS 15A-361.48 trên trục dường N2 trước nhà nghỉ Hiển Vinh, thị trấn Quất Lâm có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra hành chính đối với Lê Duy M. Quá trình kiểm tra M đã tự giác lấy trong hốc xe, dưới vô lăng xe ô tô giao nộp 01 túi nilong màu trắng (8x13)cm bên trong có chứa 100 viên nén màu xanh hình kim cương trên bề mặt mỗi viên đều có đường kẻ đứt đoạn, M khai nhận là 100 viên ma tuý tổng hợp dạng thuốc lắc, được niêm phong ký hiệu A và 02 túi nilong (6x9)cm bên trong đều chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, M khai nhận đó là ma tuý tổng hợp dạng Ketamine, được niêm phong ký hiệu A1. Tất cả số ma tuý trên M khai cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của M: 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Duy M; 3.800.000 đồng; 01 điện thoại di động OPPO đã cũ và 01 xe ô tô BKS 15A-361.48.

Tại bản kết luận giám định số 911/GĐKTHS ngày 02-7-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: “-Mẫu gồm 100 (một trăm) viên nén màu xanh, đều có 05 (năm) cạnh giống hình kim cương, trên bề mặt mỗi viên đều có 01 (một) mặt có đường kẻ bị đứt đoạn, đựng trong một túi ni lông màu trắng kích thước khoảng (8x13)cm, trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma tuý. Loại ma tuý MDMA. Tổng khối lượng mẫu A: 50,079 gam.

-Mẫu các hạt tinh thể rắn màu trắng trong 02 (hai) túi ni lông màu trắng đều có kích thước khoảng (6x9) cm phong bì thư được niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Ketamine; Tổng khối lượng mẫu A1: 75,316 gam”

Tại bản Cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 11 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Lê Duy M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quanđiểm truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố Lê Duy M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Lê Duy M từ 11 năm 06 tháng tù đến 12 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định.

Bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì. Trước khi HĐXX vào nghị án, bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ của vụ án như Biên bản phạm tội quả tang, Kết luận giám định, lời khai người làm chứng, nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 14 giờ ngày 30-6-2021, tại trục đường N2 trước nhà nghỉ Hiển Vinh, thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; Lê Duy M đã có hành vi cất giấu 50,079 gam MDMA và 75,316 gam Ketamine để sử dụng cho bản thân thì bị Đồn biên phòng Quất Lâm, Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh Nam Định phối hợp cùng Phòng phòng chống ma tuý và tội phạm Bộ đội biên phòng tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tại thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang.

Căn cứ Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02-02-2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, vì tổng tỉ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA và Ketamine so với mức tối thiểu đối với từng chất đó được quy định tại khoản 4 Điều 249 của Bộ luật hình sự là dưới 100% nên tổng khối lượng của MDMA và Ketamine chỉ thuộc trường hợp quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp tại khu lịch biển Quất Lâm; các đối tượng hình sự, ma túy ở nơi khác cũng lợi dụng địa bàn này để hoạt động đã làm phức tạp thêm tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Trước thực trạng đó, Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy mở phiên tòa xét xử lưu động tại Hội trường Ủy ban nhân dân thị trấn Quất Lâm để tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức cho người dân trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, chống tội phạm và bài trừ tệ nạn xã hội, góp phần đảm bảo an ninh, chính trị và giữ gìn trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, hướng tới mục tiêu xây dựng khu du lịch biển không có tệ nạn xã hội (cờ bạc, ma túy, mại dâm). Nhận thấy, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy nên Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, có như vậy mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đáp ứng công tác phòng chống tội phạm nói chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

[6] Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Lê Duy M, M khai do một người tên Hùng là người quen biết trước đây ở khu vực huyện An Dương, thành phố Hải Phòng đưa cho bị cáo. Nhận thấy, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý đối tượng đã đưa ma túy cho M theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Duy M; số tiền 3.800.000 đồng; 01 điện thoại di động đã cũ thu giữ của bị cáo; quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của M không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại cho gia đình M là phù hợp.

Đối với 01 xe ô tô BKS 15A-361.48 thu giữ của M, quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Khắc Sơn. Anh Sơn đã cho M thuê chiếc xe trên, anh Sơn không biết M sử dụng xe đi mua ma túy về sử dụng nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Sơn là phù hợp.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Duy M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 01-7-2021.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì hoàn trả mẫu vật sau giám định số 911/GĐKTHS ngày 02-7-2021; 01 túi niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 912/GĐKTHS ngày 02-7-2021 và 01 túi niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định mã số PS3A110416 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 12-8-2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Duy M phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngàytuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./

Cỡ chữ