vanban.org

Bản án 63/2021/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 31/08/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/08/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuyên bố bị cáo Trương Văn T phạm các tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Vận chuyển trái phép chất ma túy. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 250 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2021/HS-PT
Ngày: 31-8-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trinh.

Các Thẩm phán Ông Phạm Hoàng Dũng.

Bà Huỳnh Thị Bích Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Cần - thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Xuân Lan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31-8-2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 111/2021/TLPT-HS ngày 03-8-2021, đối với bị cáo Trương Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 56/2021/HS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân quận N.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trương Văn T; sinh năm 1986. Nơi cư trú: Khu vực L 2, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không học chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Văn M và bà: Lê Thị C; có vợ: Lê Thị T và 01 con sinh năm 2014; tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 24-7-2018, bị Tòa án nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ quyết định đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng. Chấp hành xong ngày 30-4-2019.

Bị tạm giữ: 10-12-2020. Trả tự do: 12-12-2020. Bị tạm giam: 18-12-2020. Có mặt.

Trong vụ án còn có 2 bị cáo khác nhưng không có kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo tin báo, khoảng 22 giờ 50 phút, ngày 10-12-2020, Công an quận N đã kết hợp với Công an phường H, tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Trương Văn T - khu vực L2, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. Thu giữ trong phòng ngủ của T: 5 gói chứa 0,6138 gr Methamphetamine trong hộp gương và 01 gói chứa 2,5163 gr Methamphetamine trong tủ quần áo của T. Đồng thời, thu giữ 01 nỏ thủy tinh trong nhà tắm. Lúc này tại nhà của T còn có Nguyễn Trọng N1 và Mai Hoàng H.

Kết quả điều tra đã xác định được như sau:

Khoảng 8 giờ, ngày 10-12-2020, H, N1 và T đã hùn, mỗi người 100.000đ để mua ma túy của Đ1, rồi cùng sử dụng. Số còn lại được chia làm 5 gói, đã bị thu giữ.

Khoảng 21 giờ, cùng ngày, Đ1 đến nhà của T. Sau khi sử dụng ma túy, Đ1 nhờ N1 đi lấy ma túy dùm cho Đ1. N1 và T cùng đi đến nhà của Đ1, lấy 2 gói ma túy mang về. Đ1 giữ 01 gói và bán cho H gói còn lại. Đ1 đi về. H cất gói ma túy trong tủ quần áo của T và đã bị thu giữ.

Tại bản án số 56/2021/HS-ST ngày 30-6-2021, Tòa án nhân dân quận N đã áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38 và 55 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Trương Văn T 03 năm 06 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy và 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hình phạt chung là 05 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra, còn có quyết định về: Hình phạt đối với 2 bị cáo khác, xử lý vật chứng và án phí trong vụ án.

Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 08-7-2021, bị cáo Trương Văn T kháng cáo, xin giảm mức hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo, không có cung cấp thêm chứng cứ về các tình tiết mới.

Kiểm sát viên nhận định: bản án sơ thẩm đã tuyên có căn cứ và đúng pháp luật. Khi lượng hình Tòa án sơ thẩm đã có xem xét các tình tiết giảm nhẹ theo luật định cho bị cáo. Mức hình phạt đã tuyên đối với bị cáo là tương xứng, nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm tuân thủ các quy định của Pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho những người tham gia tố tụng. Các chứng cứ tại hồ sơ đủ để kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như để giải quyết các vấn đề khác có liên quan.

Bị cáo đã bị bắt quả tang với 3,1301 gr Methamphetamine, trong phòng ngủ, tại nơi ở của bị cáo. Trong đó, có 2,5163 gr Methamphetamine thu giữ trong tủ quần áo, là do bị cáo và N1 đã mang từ nhà của Đ1 về.

Xét xử bị cáo theo c khoản 1 Điều 249; điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Khi lượng hình Tòa án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết của vụ án và tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

Tình hình hiện nay các tội phạm về ma túy chưa có xu hướng giảm, bất chấp những nỗ lực không ngừng của Nhà nước và Cộng đồng. Quy mô phạm tội ngày càng lớn. Thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi. Người phạm tội ngày càng liều lĩnh và manh động. Tội phạm này trực tiếp gây suy giảm sức khỏe của Cộng đồng, là mầm móng phát sinh những hành vi phạm pháp và phạm tội khác, gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội rất nghiêm trọng. Đối với người phạm tội cần xử phạt cho nghiêm nhằm đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Mức hình phạt đã tuyên, đối với bị cáo, như vậy là không nặng. Nên giữ nguyên, như kết luận của Kiểm sát viên.

Những vấn đề liên quan đến việc thi hành án sẽ được giải quyết khi chấp hành án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Trương Văn T phạm các tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Vận chuyển trái phép chất ma túy.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 55 và 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Trương Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy và 02 (hai) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hình phạt chung là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 18 - 12 - 2020. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10 đến 12 - 12 - 2020.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực thi hành.

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ