- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chât ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2020/HS-ST Ngày 22 - 7 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hải.
Thẩm phán:
Bà Tòng Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Đào;
Ông Lê Bắc Hải;
Bà Đinh Thị Kim Dung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh năm 1966 tại tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú: Số nhà 293, đường Đ, khu 5, phường X, thành phố Y, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị C1 (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị N (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2008.
Tiền án: Có 03 tiền án:
- Ngày 23/7/1997, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 09 năm tù về tội Cướp tài sản công dân tại Bản án hình sự phúc thẩm số 1091.
- Ngày 28/3/1998, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 12 năm tù về tội Giết người tại Bản án hình sự phúc thẩm số 548 và tổng hợp hình phạt 09 năm tù tại Bản án số 1091 ngày 23/7/1997 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 20 năm tù (chấp hành xong ngày 31/01/2013).
- Ngày 26/7/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Y, tỉnh Hải Dương xử phạt 10 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật (chấp hành xong ngày 24/9/2018).
Tiền sự: Có 01 tiền sự, ngày 18/9/2019, bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng (hiện đang tạm đình chỉ thời gian cai nghiện theo Quyết định số 16/QĐ-CSĐTNMT ngày 21/01/2020 của Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh).
Bị bắt tạm giam từ ngày 21/01/2020 cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Ngô Xuân N1 - Luật sư của Văn phòng Luật sư W thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 16/9/2019, Nguyễn Văn C, sinh năm 1966, trú tại: Số nhà 293, đường Đ, khu 5, phường X, thành phố Y, tỉnh Hải Dương mang theo 20.000.000đ đón xe khách từ thành phố Y, tỉnh Hải Dương lên huyện V, tỉnh Sơn La, mục đích tìm mua ma túy đá về sử dụng.
Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, C xuống xe khách tại ngã ba V1, huyện V, tỉnh Sơn La rồi vào một quán nước gần đó ngồi chơi. Tại quán nước, C gặp và hỏi mua ma túy đá của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 28 tuổi, không quen biết với số tiền 18.000.000đ. Người đàn ông đồng ý, bảo C ngồi đợi rồi lấy xe máy đi khoảng 30 phút thì quay lại và bảo C đi bộ ra khu vực vắng người để trao đổi mua bán ma túy. Sau khi C đưa 18.000.000đ thì người đàn ông dân tộc Mông đưa cho C 01 gói nilon bên trong có ma túy đá. C cầm bọc nilon bên trong có ma túy đá cất giấu vào chiếc ba lô nhãn hiệu Sakos mang theo rồi đón xe Taxi của một người đàn ông không quen biết để đi về nhà tại thành phố Y nhưng khi đi được khoảng 15m thì người lái xe dừng lại và bảo không đi nữa. C xuống xe Taxi, cầm theo chiếc ba lô đựng ma túy để ở ngay sát chân cột mốc H2/154 rồi đứng chờ ở lề đường, cách vị trí để ba lô khoảng 03m để đón xe khách đi về thành phố Y.
Khoảng 00 giờ 15 phút, ngày 17/9/2019, khi C đang đứng chờ xe khách thì bị Tổ công tác Công an huyện V đến kiểm tra, phát hiện thu giữ của C 01 chiếc ba lô bên trong đựng 01 gói nilon chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp dạng đá. C khai đang trên đường mang ma túy đá về thành phố Y, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hồi 09 giờ 00 phút, ngày 17/9/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, kết quả: Bên trong gói nilon thu giữ có chứa các hạt tinh thể màu trắng có tổng khối lượng 181,52 gam; lấy 1,10 gam làm mẫu giám định, ký hiệu là C.
Tại Kết luận giám định số 1501 ngày 24/9/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu C là ma túy; loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 1,10 gam. Tổng khối lượng vật chứng thu giữ là 181,52 gam”.
Tại Cơ quan điều tra, ban đầu Nguyễn Văn C khai không liên quan đến số ma túy bị thu giữ. Sau khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La để tiến hành điều tra thì Nguyễn Văn C khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Về nguồn gốc 181,52 gam ma túy, loại Methamphetamine thu giữ: Nguyễn Văn C khai mua của người đàn ông dân tộc Mông C không biết họ, tên và địa chỉ.
Do có hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số 62/CT-VKS ngày 17/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Nguyễn Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự.
* Tranh tụng tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố và không khai báo gì thêm.
* Tranh luận tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La trình bày luận tội giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 18 đến 19 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng và án phí: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa nhất trí với quan điểm truy tố, luận tội của Kiểm sát viên. Tuy nhiên, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân, điều kiện dẫn đến bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là do bị cáo bị bệnh lao kháng thuốc và nhận thức pháp luật phần nào hạn chế, cho rằng sử dụng ma túy có thể chữa được bệnh nên mới tìm mua ma túy để sử dụng. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng nhưng được đối trừ với 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, mở lượng khoan hồng xử phạt bị cáo mức hình phạt 17 năm tù và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Văn C nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Ngày 17/9/2019, tại Km 154 + 200m, Quốc lộ 6, phía bên phải đường theo hướng Sơn La - Hà Nội, thuộc địa phận bản M, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La, Nguyễn Văn C bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép 181,52 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản test thử ma túy lập hồi 03 giờ 00 phút, ngày 17/9/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đối với Nguyễn Văn C xác định: Nguyễn Văn C dương tính với chất ma túy, nhóm MET và nhóm MDMA.
- Biên bản khám nghiện hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Sơn La lập hồi 12 giờ 35 phút ngày 17/9/2019 tại bản M, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La.
- Kết luận giám định số 1501 ngày 24/9/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu C là ma túy; loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 1,10 gam. Tổng khối lượng vật chứng thu giữ là 181,52 gam”.
- Kết luận giám định số 5630/C09(TT3) ngày 31/10/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: “… Trên chiếc áo vải màu đen có hình hoa văn màu trắng ghi thu giữ trong ba lô cách chỗ Nguyễn Văn C đứng khoảng 3 mét gửi giám định có tế bào người và là tế bào của Nguyễn Văn C”.
- Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của những người chứng kiến việc kiểm tra đối với chiếc ba lô thu giữ và kiểm tra đối với Nguyễn Văn C vào ngày 17/9/2019; phù hợp với lời khai và kết quả nhận dạng của chị Hoàng Thị B, sinh năm 1979, nơi cư trú: Khu 1, thị trấn A, huyện A1, tỉnh Hải Dương đối với chiếc áo màu đen, có hình hoa văn màu trắng và chiếc quần gió là những đồ vật được lấy ra từ chiếc ba lô thu giữ khi phát hiện vụ việc; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 181,52 gam ma túy, loại Methamphetamine đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “… Methamphetamine … có khối lượng 100 gam trở lên” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có 03 tiền án và 01 tiền sự.
Tình tiết tăng nặng: Tại bản án số 113/2016/HS-ST ngày 26/7/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Y, tỉnh Hải Dương xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, bị cáo chưa được xóa án tích nhưng lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự. Do đó, cần áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự khi lượng hình đối với bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn và các tội phạm khác; làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Hơn nữa, bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng lớn; phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo mới đảm bảo biện pháp trừng trị cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự nhưng xét bị cáo không có chức vụ, không có nghề nghiệp, không có công việc có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị lớn và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về các đối tượng có liên quan:
Đối với người đàn ông dân tộc Mông khoảng 28 tuổi mà bị cáo Nguyễn Văn C khai là người đã bán ma túy cho bị cáo và người đàn ông lái xe Taxi: Kết quả điều tra xác định bị cáo không biết họ tên, địa chỉ và số điện thoại của 02 người đàn ông này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xác minh, điều tra.
Về vật chứng:
Đối với 180,42 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu giám định và 0,56 gam ma túy, loại Methamphetamine hoàn lại sau khi giám định: Xét đây là loại hàng Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 que thử ma túy; 01 chiếc mũ lưỡi trai; 01 mẫu tóc; 01 chiếc khăn màu xanh; 01 chiếc áo và 01 chiếc quần nam; 01 vỏ hộp bìa cát tông niêm và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 chiếc ba lô màu đen - đỏ thu giữ của Nguyễn Văn C: Xét đây là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 1.000.000đ; 01 chiếc dây sạc điện thoại; 02 chiếc điện thoại di động; 01 chiếc sạc điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn C: Xét không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 18 (mười tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2020.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 180,42 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu giám định được niêm phong trong một chiếc phong bì do Công an huyện V phát hành, còn nguyên niêm phong.
+ 0,56 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi giám định + Vỏ phong bì niêm phong ban đầu được niêm phong trong một chiếc phong bì do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La phát hành, còn nguyên niêm phong.
+ Que thử ma túy đối với Nguyễn Văn C được niêm phong trong một chiếc phong bì do Bưu điện phát hành, còn nguyên niêm phong.
+ 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai màu đỏ, nhãn hiệu PUMA, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) mẫu tóc của Nguyễn Văn C.
+ 01 (một) chiếc khăn màu xanh, kích thước 90 x 45cm, trên khăn có chữ CLEAR MEN và hoa văn xanh - trắng - đỏ - đen, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) chiếc áo nam màu đen, dài tay, nhãn hiệu ZARA, trên áo có hoa văn màu đen - trắng, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) chiếc quần dài nam, màu đen, nhãn hiệu DỆT MAY M-Ư MADE IN VIETNAM, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) vỏ hộp bìa cát tông niêm phong ban đầu.
+ 01 (một) chiếc ba lô màu đen - đỏ, nhãn hiệu SAKOS, có hai dây đeo phía sau và một quai xách, trên ba lô có bốn khóa kép bằng kim loại sáng màu, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C:
+ Số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) được niêm phong trong một chiếc phong bì do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La phát hành, còn nguyên niêm phong.
+ 01 (một) chiếc dây sạc điện thoại màu đỏ, dài khoảng 03m, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia (điện thoại bàn phím), vỏ màu đen, nắp sau của điện thoại được dán băng dính màu xanh, không có số imei, kèm 01 sim trong điện thoại, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu MI (điện thoại cảm ứng), màu trắng - xám, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) hộp vật chứng còn nguyên niêm phong, một mặt hộp có ghi dòng chữ “01 (một) sạc điện thoại màu đen, chân kim, bên trên có ghi chữ “Nguyện” màu trắng; 01 (một) mảnh băng dính màu đen và lớp nilon màu vàng được dính vào nhau. Sự việc được phát hiện vào ngày 17/9/2019 tại bản M, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La”.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 22/7/2020).
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Sơn La; - Cục THADS tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Phòng PC04 - Công an tỉnh Sơn La; - Trại tạm giam - Công an tỉnh Sơn La; - Những người tham gia tố tụng; - Phòng KTNV&THA; - Tổ Hành chính tư pháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Hải |