vanban.org

Bản án 63/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 24/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn Q 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25/4/2020. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn Quang phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? luật hình sự xác định Vũ Văn Q; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH TƢỜNG
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2020/HS-ST
Ngày 24 tháng 8 năm 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƢỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Minh

2. Bà Lê Thị Tôn Thiết

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2020/TLST - HS ngày 29 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Vũ Văn Q, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2000. Tại: Phường N, thành phố V, tỉnh P. Nơi cư trú: TDP V, phường N, thành phố V, tỉnh P; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn C sinh năm 1973 và bà Đinh Tiểu T sinh năm 1977; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại bản án số 48/2018/HS - ST ngày 20/4/2018 của Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xử phạt Vũ Văn Q 01 năm tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 02 năm về tội Gây rối trật tự công cộng (Q thực hiện hành vi phạm tội ngày 14/9/2017). Ngày 20/4/2020 Q chấp hành xong toàn bộ bản án. Tại thời điểm phạm tội, Q 17 tuổi 07 tháng 02 ngày, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 107 bộ luật hình sự xác định Vũ Văn Q không có án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/4/2020 đến nay, (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lương Quý T, sinh năm 1987; Địa chỉ: TDP N, thị trấn V, huyện V, tỉnh P. (Vắng mặt)

Ông Vũ Văn C, sinh năm 1973; Địa chỉ: TDP V, phường N, thành phố V, tỉnh P. (Có mặt)

Người làm chứng: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh P (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21h00’ ngày 23/4/2020, Vũ Văn Q, sinh năm 2000; trú tại: Tổ dân phố V, phường N, thành phố V đang đi chơi ở khu vực gần Bảo Tàng tỉnh Vĩnh Phúc thì nhận được điện thoại từ số thuê bao 0913.488.686 của Lương Quý T, sinh năm 1987, trú tại: Tổ dân phố N, thị trấn V, huyện V, tỉnh P gọi vào số thuê bao 0963.318.550 của Q. Qua điện thoại T có hỏi mua của Q một túi ma túy Cỏ với giá 500.000đ, do Q biết chỗ mua ma túy để bán kiếm lời từ một số người bạn của mình nên Q đã đồng ý và nói với T ''Anh đợi em một lúc rồi em cầm qua cho anh''. Sau đó Q điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen đã cũ có BKS: 19U1-2672 của ông Vũ Văn C sinh năm 1973, trú tại: Tổ dân phố V, phường N, thành phố V (là bố đẻ của Q) đi đến khu vực gần nhà thi đấu tỉnh P, tại đây Q có gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi, dáng người gầy, cao khoảng 1,65m một túi ma túy Cỏ với giá 200.000đ với mục đích để bán lại cho T với giá 500.000đ. Sau khi mua được túi ma túy Cỏ, Q cất túi ma túy vừa mua được vào túi áo khoác bên phải phía trước đang mặc và đi đến điểm hẹn với T. Khi đi được nửa đoạn đường đến khu vực đoạn đường tránh thuộc địa phận huyện Yên Lạc, Q có dùng điện thoại đi động với số thuê bao 0963.318.550 gọi điện cho T có số thuê bao là 0913.488.686 và hỏi: "Anh đang ở đâu'', T trả lời: ''Anh đang ở Khu đô thị Phúc Sơn''. Khi đi đến khu vực ngã tư gần bến xe Vĩnh Tường, Q tiếp tục gọi điện thoại cho T và hỏi: ''Giờ em giao ma túy cho anh ở đâu'', T trả lời: ''Em đem đến gần quán Karaoke Luxury thì đợi anh ở đó". Khi đến điểm hẹn như T đã nói, Q không thấy T đâu nên tiếp tục gọi điện cho T, tuy nhiên T không nghe máy, Q vừa cất điện thoại vào túi quần đang mặc thì đúng lúc này lực lượng Công an huyện Vĩnh Tường đi đến kiểm tra phát hiện và bắt giữ Q.

Tang vật thu giữ, tạm giữ:

- Thu trong túi áo khoác bên phải phía trước Vũ Văn Q đang mặc 01 túi nilon màu trắng có mép vuốt bên trong chứa các cục dạng thực vật màu nâu vàng; Q khai nhận đó là ma tuý Cỏ của Q đem đi với mục đích để bán cho T để kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện thu giữ. Tang vật được niêm phong vào một phong bì thư theo đúng thủ tục pháp luật, ký hiệu A1.

- Thu trong túi quần bên trái phía trước của Vũ Văn Q đang mặc 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao số 0963.318.550.

- Tạm giữ của Vũ Văn Q 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen đã cũ có BKS: 19U1-2672.

Căn cứ hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của Vũ Văn Q, ngày 24/4/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 12, khám xét chỗ ở của Vũ Văn Q tại Tổ dân phố V, phường N, thành phố V, tỉnh P. Quá trình khám xét đã phát hiện thu giữ bên trong hộp kim loại màu xanh để tại phía dưới ngăn tủ bên phải chiếc tủ quần áo kê ở góc phòng ngủ bên phải tầng 2 chỗ ở của Vũ Văn Q có 02 túi nilon màu trắng bên trong đều chứa chất dạng thực vật hình cây nấm màu nâu, nghi là ma túy. Tang vật được niêm phong vào phong bì thư theo đúng quy định của pháp luật, ký hiệu A2.

Ngày 24/4/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 267, giám định tang vật thu giữ được của Vũ Văn Q trong quá trình kiểm tra bắt giữ đến phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc để giám định xác định khối lượng và loại ma túy trong mẫu vật ký hiệu A1.

Ngày 25/4/2020, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc có bản Kết luận giám định số 916/KLGĐ, xác định:

Tổ chức dạng thực vật của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,5721g (Hai phảy năm bảy hai một gam, không kể bao bì) loại Cần sa.

Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1= 2,4872 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ” trên giáp lai có chữ ký của người giám định và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc.

Ngày 25/4/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 270, giám định tang vật thu giữ được trong quá trình khám xét khẩn cấp đến Viện khoa học hình sự - Bộ Công an để giám định xác định khối lượng và loại ma túy trong mẫu vật ký hiệu A2.

Kết quả mở niêm phong tại Viện khoa học hình sự - Bộ Công an xác định có 02 túi nilon bên trong đều chứa mẫu dạng thực vật hình cây nấm màu nâu, tổng khối lượng mẫu dạng thực vật hình cây nấm màu nâu là 2,459 gam.

Ngày 03/5/2020, Viện khoa học hình sự - Bộ Công an đã có bản Kết luận giám định số 2362/C09-TT2, xác định:

Không tìm thấy các chất ma tuý và tiền chất trong mẫu dạng thực vật hình cây nấm màu nâu gửi giám định.

Viện khoa học hình sự - Bộ Công an đã hoàn lại đối tượng giám định gồm: Mẫu vật sau giám định và vỏ bao gói được hoàn lại trong phong bì niêm phong số 2362/C09 (TT2), theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định.

Tại bản Cáo trạng số 63/CT-VKSVT ngày 27/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường đã truy tố bị cáo Vũ Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, ngoài ra không có lời bào chữa nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Q và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; xử phạt bị cáo Q từ 26 tháng tù đến 29 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 25/4/2020. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Tường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, bị cáo khai nhận:

Hồi 23h30 phút ngày 23/4/2020 tại khu trung tâm thương mại và nhà ở Phúc Sơn thuộc xã Thượng Trưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, Vũ Văn Q bị Công an huyện Vĩnh Tường bắt quả tang do có hành vi tàng trữ 2,5721 gam ma tuý loại cần sa để bán cho Lương Quý T, sinh năm 1987, trú tại: Tổ dân phố N, thị trấn V, huyện V, tỉnh P. Tang vật thu giữ 01 túi nilon màu trắng có mép vuốt bên trong chứa các cục dạng thực vật màu nâu vàng có khối lượng 2,5721g là ma tuý loại cần sa; 01 điện thoại di động; 01 xe mô tô BKS: 19U1-2672.

. Xét lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản sự việc, biên bản lời khai và bản kiểm điểm của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Vũ Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự qui định: “ Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm ”.

Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường đã truy tố Vũ Văn Q về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Ma túy là nguyên nhân gây ra một lớp người nghiện trong xã hội gây tác hại cho chính bản thân người nghiện và gia đình họ cũng như trong cộng đồng nói chung, làm quần chúng nhân dân bất bình và cả xã hội lên án. Ngoài ra, việc sử dụng ma túy thường xuyên còn có nguy cơ lây nhiễm căn bệnh thế kỷ như HIV-AIDS. Các đối tượng nghiện ma túy từ việc không có tiền sử dụng ma túy dẫn đến việc trộm cắp tài sản, cướp tài sản, có khi còn giết người lấy tài sản nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Do vậy cần xử phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa tội phạm nói chung và làm gương cho người khác có ý thức chấp hành pháp luật.

Về nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo Là người có nhân thân xấu: Ngày 20/4/2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 02 năm về tội “Gây rối trật tự công cộng” Ngày 20/4/2020 bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án, tuy nhiên căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 107 bộ luật hình sự bị cáo được xóa án tích do tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà còn tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này bị cáo phạm tội mua bán trái phép 2,5721g ma túy loại cần sa. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo có ông nội là Vũ Văn C là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy Hội đồng xét xử có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhưng nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và tại phiên tòa bị cáo xác nhận là người nghiện ma túy, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, bản thân bị cáo không có công việc thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

. Các vấn đề khác:

Đối với Lương Quý T: Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra đã thành khẩn khai nhận hành vi mua ma tuý của Q vào ngày 23/4/2020, mục đích T mua ma tuý của Q là để sử dụng cho bản thân. Đồng thời T đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh đen, đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0913.488.686, T khai nhận đó là chiếc điện thoại di động của T đã sử dụng liên lạc hỏi mua ma túy của Q vào tối ngày 23/4/2020. Do T mới liên lạc hỏi mua ma tuý của Q, T chưa nhận ma tuý từ Q và chưa đưa tiền cho Q nên hành vi trên của T không cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường không đề cập xử lý mà chỉ giáo dục, nhắc nhở, răn đe đối với T là phù hợp.

Đối với nguồn gốc số ma túy, Q khai nhận mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi không rõ tên tuổi, địa chỉ ở khu vực gần Nhà thi đấu tỉnh Vĩnh Phúc thuộc phường Khai Q, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh về người đàn ông này, tuy nhiên đến nay chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người này. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường tiếp tục tiến hành xác minh làm rõ khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật là phù hợp.

Đối với nguồn gốc số tang vật mà Cơ quan điều tra đã thu giữ của Q trong quá trình thi hành Lệnh khám xét, Q khai nhận mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, dáng người gầy, đen, cắt tóc ngắn, Q không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể ở khu vực cổng khu công nghiệp Khai Q thuộc phường Khai Q - thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc với mục đích sử dụng cho bản thân, do số tang vật trên không phải ma tuý nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường không đề cập xử lý Q về số tang vật này. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh về người đàn ông này nhưng chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người này. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen đã cũ BKS: 19U1-2672 tạm giữ của Vũ Văn Q, quá trình điều tra xác định chiếc xe máy này có đăng ký tên Vi Văn Cao là tài sản của ông Vũ Văn C, sinh năm 1973, là bố đẻ của Q, ông C mua chiếc xe trên vào giữa năm 2009 với giá 10.000.000đ của anh Vi Văn C. Khi ông C cho Q mượn xe làm phương tiện đi lại, ông C không biết Q đi đâu, làm gì. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường đã trả lại cho ông Vũ Văn C Nhận lại tài sản ông C không có ý kiến, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao số 0963.318.550 thu giữ của Vũ Văn Q và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao số 0913.488.686 thu giữ của Lương Quý T. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Q và T đồng thời sử dụng liên lạc với nhau để mua bán ma tuý vào ngày 23/4/2020 nên tịch thu, phát mại sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với mẫu vật A1 = 2,4872gam cùng bao gói được niêm phong chung trong một bao gói giấy ghi “MẪU TRẢ” trong đó có 2,459 gam mẫu dạng thực vật hình cây nấm màu nâu và toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn trả sau giám định không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Về án phí: Bị cáo Vũ Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn Q 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25/4/2020.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu bán phát mại sung vào Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao số 0963.318.550 thu giữ của Vũ Văn Q và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao số 0913.488.686 thu giữ của Lương Quý Thanh là tài sản hợp pháp của Q và Thanh sử dụng liên lạc với nhau để mua bán ma tuý vào ngày 23/4/2020.

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn trả lại sau giám định gồm A1 = 2,4872gam cùng bao gói được niêm phong chung trong một bao gói giấy ghi “MẪU TRẢ” trong đó có 2,459 gam mẫu dạng thực vật hình cây nấm màu nâu và toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn trả sau giám định.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 8 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường).

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Vũ Văn Q phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ