vanban.org

Bản án 63/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 28/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo V S M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm c, Khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt: Bị cáo V S M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, Thời hạn từ tính từ ngày 29/07/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo V S M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM MỸ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2020/HS-ST
Ngày: 28/12/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Đức Dũng.

2. Bà Lại Thị Thúy Hằng.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Học, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Báu - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 28 tháng 12 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

V S M (B), sinh năm 1996, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông V P, sinh năm: 1972 và bà Ư M, sinh năm: 1973; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/7/2020, đến ngày 04/8/2020 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người làm chứng:

1. Ông C C P(Mập), sinh năm: 1997 (Vắng mặt không có lý do).

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

2. Ông L V D, sinh năm: 1982 (Vắng mặt không có lý do).

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 29/7/2020, lực lượng Công an xã B tiến hành kiểm tra hành chính tại gia đình ông L V D, sinh năm: 1982, địa chỉ ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại túi quần V S M đang mặc trên người có 01 (một) hộp nhựa hình chữ nhật bên trong có 04 (bốn) bịch ny lông chứa chất tinh thể màu trắng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu bạc của Vòng Sùi M

V S M khai nhận: bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 29/7/2020, C C P(Cố Mập), sinh năm: 1997 nhà ở Ấp T, xã B, huyện C có gọi điện thoại cho M đến nhà nhờ chút việc nên M đến nhà Phát. Tại đây, Phát có đưa cho M 01 (Một) gói thuốc lá nhãn hiệu Basto màu đỏ, Phát nói khi nào Phát gọi điện thoại đưa cho ai thi M đưa gói thuốc cho người đó. Khi cầm gói thuốc lá M biết bên trong có chứa ma túy đá, đến khoảng 18 giờ cùng ngày M về nhà và có mở gói thuốc lá ra xem thấy bên trong có chứa 01 (một) hộp nhựa màu trắng, nắp màu xanh bên trong có 04 (bốn) bịch ny lông màu trắng được hàn kín hai đầu chứa chất tinh thể màu trắng. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, M gọi điện thoại cho Phát thì Phát nói đưa số ma túy trên cho V K H, sinh năm 1996, cứ trú tại ấp Lò Than, xã Bảo Bình, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai và gửi số điện thoại của Huy cho M để liên lạc với Huy. M liền gọi điện thoại cho Huy để giao ma túy thì Huy nói đang từ Long Khánh về, khi nào về đến thì Huy sẽ gọi cho M. Khoảng 22 giờ cùng ngày M đến nhà ông L V D để tắm, khi vừa tắm xong thì bị lực lượng Công an xã Bảo Bình tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Tại Bản kết luận giám định số 1529/KLGĐ –PC09 ngày 03/8/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,6474 gam, loại Methamphetamine.

Vật chứng vụ án:

+ 01 (Một) gói niêm phong có hình dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai số: 1529/KLGĐ –PC09 niêm phong ngày 03/8/2020, còn lại sau giám định có khối lượng 1,6146 gam.

+ 01 (Một) hộp nhựa màu trắng.

+ 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu bạc, kèm 01 sim điện thoại số 0979675271 của Vòng Sùi M.

Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKSCM ngày 24/11/2020 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo V S Mvề tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Đối với hành vi C C P (C) trong quá trình điều tra, Phát không thừa nhận việc Phát nhờ V S Mgiao ma túy cho V K H, ngoài lời khai của M không có chứng cứ nào khác nên không có cơ sở để xử lý C C P.

Riêng đối tượng tên V K H do chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong có dấu đỏ Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai số 1529/KLGĐ –PC09 ngày 03/8/2020.

Tịch thu, sung công quỹ nhà nước một điện thoại Iphone màu bạc, kèm một sim điện thoại số 0979675271 của bị cáo.

Tịch thu tiêu hủy 01 hộp nhựa màu trắng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết lỗi, xin hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất để về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: khoảng 22 giờ, ngày 29 tháng 7 năm 2020, tại nhà ông L V D thuộc ấp Tân Hòa, xã Bảo Bình, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, V S M có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy chứa trong 04 bịch ny lông màu trắng, được hàn kín, khối lượng ma túy là 1,6474 gam, loại Methamphetamine thì bị lực lượng Công an huyện Cẩm Mỹ bắt quả tang. Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo V S Mphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác như trộm cắp, cướp giật, giết người..., làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần xử bị cáo một mức án đúng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, cải tạo, giáo dục, phòng ngừa chung, đồng thời cho bị cáo một thời gian cần thiết để cai nghiện ma túy. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, do đó, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai số 1529/KLGĐ –PC09 ngày 03/8/2020 bên trong có ma túy loại Methamphetamine.

Một điện thoại Iphone, màu bạc kèm một sim điện thoại số 0979675271, bị cáo khai sử dụng vào việc phạm tội do đó cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

01 hộp nhựa màu trắng hình chữ nhật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Đối với hành vi của C C P(Cố Mập) trong quá trình điều tra, Phát không thừa nhận việc Phát nhờ V S Mgiao ma túy cho V K H, ngoài lời khai của M không có chứng cứ nào khác nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với C C P.

Riêng đối tượng tên V K H do chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

[7] Đề nghị của Viện kiểm sát: Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo V S M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm c, Khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo V S M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, Thời hạn từ tính từ ngày 29/07/2020.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai số 1529/KLGĐ –PC09 ngày 03/8/2020 bên trong có ma túy loại Methamphetamine (Theo Biên bản giao nhân vật chứng, tài sản ngày 24/11/2020, giữa Công an huyện Cẩm Mỹ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ).

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) hộp nhựa màu trắng hình chữ nhật có chiều dài 06cm, chiều rộng 3,5cm, cao 01cm (Theo Biên bản giao nhân vật chứng, tài sản ngày 24/11/2020, giữa Công an huyện Cẩm Mỹ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ).

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu bạc, kèm 01 (một) sim điện thoại số 0979675271 của bị cáo V S M (Theo Biên bản giao nhân vật chứng, tài sản ngày 24/11/2020, giữa Công an huyện Cẩm Mỹ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ