- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn H, Đỗ Hoàng D - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Cao Văn H, Đỗ Hoàng D.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2020/HS-PT Ngày: 11/8/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hùng
Các Thẩm phán:
Ông Lê Quang Ninh
Ông Bùi Thanh Thảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phương T - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến- Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2020/TLPT-HS ngày 02 tháng 7 năm 2020 đối với các bị cáo Cao Văn H, Đỗ Hoàng D do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2020/HS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Bị cáo kháng cáo:
1. Cao Văn H, sinh năm: 1964, tại Nghệ An; Nơi cư trú: Thôn S, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn G (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1937 ; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Bắc (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2019 đến ngày 24/12/2019 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Đỗ Hoàng D, sinh năm: 1979, tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Hoàng H, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1957; Bị cáo có vợ là Trần Thị Kim P, sinh năm 1982 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2019 đến ngày 24/12/2019 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 15/12/2019, Đỗ Hoàng D, Cao Văn H, Nguyễn Văn H, Hoàng Viết T và Ngô Quang S đến nhà Trương Đức Q chơi. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, thì Q rủ D, H, H đánh bài “phỏm” thắng thua bằng tiền, tất cả đều đồng ý. Q chuẩn bị 03 bộ bài tây, 01 ca nhựa đỏ, 01 cái mền màu xanh trải ở giữa phòng bếp rồi cùng nhau chơi đánh bài. Lúc sau, có Nguyễn Đình T đến nhà Q ngồi xem đánh bạc. Cả nhóm chơi đánh bạc đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, thì H rủ S đi ăn nên H nhờ Tuân đánh thay và để lại toàn bộ số tiền trên chiếu bạc cho Tuân, Tuân đánh được khoảng 02 ván thì H ăn xong quay lại và Tuân giao lại để H chơi tiếp. Khoảng 17 giờ cùng ngày, thì Lê Văn T đến nhà Q ngồi xem đánh bạc. T ngồi xem được một lúc, do phải truyền dịch lọc thận nên Q nhờ T thay Q đánh bạc với H, T, H. Khi nhờ T đánh thay Q để lại toàn bộ số tiền tại chiếu bạc cho T tiếp tục đánh bài, do có công việc riêng nên D nhờ T đánh bạc thay D và cũng để lại toàn bộ số tiền trên chiếu bạc cho T. D, H, T và T chơi đến khoảng 18 giờ 30 phút thì bị Công an huyện B bắt quả tang người cùng tang vật.
Hình thức đánh bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền, cụ thể như sau: Các con bạc sử dụng 01 bộ bài tây 52 lá chia làm 04 phần tương đương với vị trí của 04 người chơi. Trong đó 03 phần có 9 Q bài và 01 phần có 10 Q bài. Số bài còn lại được xếp thành chồng để ở giữa 04 người chơi. Sau khi chia bài xong thì tiến hành đánh. Q đánh trước đối với ván bài đầu tiên là do người có 10 lá bài, còn các ván bài tiếp theo thì người nào về nhất được Q đánh trước và cũng là người được chia 10 lá bài, ván bài kết thúc sau 4 vòng đánh. Luật chơi và cách tính thắng thua như sau:
- Phỏm ù là 3 tập H các lá bài có cùng giá trị hoặc 03 lá bài liên tiếp nhau nH cùng một nước bài (Cơ, rô, chuồn, bích).
- Phỏm cháy là người chơi không có 1 tập H các lá bài có cùng giá trị hoặc 03 lá bài liên tiếp nhau H không cùng một nước bài (Cơ, rô, chuồn, bích).
- Ăn chốt hạ là người chơi liền trước để người chơi liền sau ăn lá bài (gọi là lá bài gà) thứ 3.
- Luật đền là người chơi liền trước để người chơi liền sau ăn liên tiếp 3 lá bài gà làm cho người ăn 3 lá bài gà được bài Ù thì người chơi liền trước phải đền tiền cho hai người chơi còn lại.
- Cá già là người có Q bài “K” trong bài thì được ăn 800.000đ.
- Ăn lá gà (là người chơi liền trước để người chơi liền sau ăn lá thứ nhất thì thua 200.000đ, ăn lá thứ 2 thì thua 400.000đ).
- Người về nhất là người có số điểm thấp nhất: Thắng 1.200.000 đồng.
- Người về nhì là người có số điểm thấp thứ hai: Thua 200.000 đồng.
- Người về ba là người có số điểm thấp thứ ba: Thua 400.000 đồng.
- Người về chót là người có số điểm cao nhất: Thua 600.000 đồng.
- Cách tính điểm các lá bài: Q bài “K” là 13 điểm; Q bài “Q” là 12 điểm; Q bài “J” là 11 điểm; Q bài “A” là 1 điểm. Các Q bài 10 đến Q bài 2 thì số điểm được tính theo số tương ứng trên Q bài.
Kết quả, sau 4 vòng đánh người nào được bài “Ù” thì thắng được 1.000.000đ của mỗi người chơi. Người chơi nào không có phỏm thì bị “cháy” thua 800.000đ chung cho người về nhất. Người nào ăn Q bài chốt hạ của tụ bài đối phương thì thắng 800.000đ. Người nào có 02 lá “già” (K) trong bài thì ăn được 800.000đ của những người không có. Người nào ăn lá bài thứ nhất thì được 200.000đ, lá thứ 2 là 400.000đ (lá “gà”). Khi chơi bài tụ nào về nhất thì ván kế tiếp được Q đánh trước.
Các con bạc sử dụng số tiền vào việc đánh bạc, cụ thể như sau:
1. Trương Đức Q 4.000.000 đồng, tại thời điểm bị bắt quả tang, Q thắng 3.600.000 đồng. Tổng số tiền thu giữ trên chiếu bạc chỗ Q và T ngồi là 7.600.000 đồng.
2. Cao Văn H 18.000.000 đồng, bỏ tiền sâu 100.000 đồng, tại thời điểm bị bắt quả tang H không thắng không thua. Tổng số tiền thu giữ trên chiếu bạc của H là 18.000.000 đồng.
3. Nguyễn Văn H 6.000.000 đồng, tại thời điểm bị bắt quả tang, H thua 3.600.000 đồng. Tổng số tiền thu giữ trên chiếu bạc của H là 2.400.000 đồng.
4. Đỗ Hoàng D 4.500.000 đồng, bỏ tiền sâu 100.000 đồng, tại thời điểm bị bắt quả tang thua 200.000 đồng. Tổng số tiền thu giữ trên chiếu bạc chỗ D ngồi là 4.300.000 đồng.
5. Lê Văn T, Nguyễn Đình T, Hoàng Viết T không bỏ tiền để đánh bạc, T đánh thay cho Q, T đánh thay cho D, Tuân đánh thay cho H. (bút lục 1-4, 143-145, 158-160,188-189,200-203, 223-225, 235-238).
Tại sòng bạc Công an huyện B thu giữ 32.300.000 đồng trên chiếu bạc và 200.000 đồng trong ca nhựa màu đỏ trên chiếu bạc, 52 lá bài tây đang sử dụng, 02 bộ bài tây chưa qua sử dụng, 01 ca nhựa màu đỏ, 01 cái mền màu xanh, 02 xe môtô. Ngoài ra, qua kiểm tra thu giữ 4.000.000 đồng trên người của Nguyễn Văn H và 3.200.000 đồng trên người của Ngô Quang S.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2020/HS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước quyết định:
[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Trương Đức Q phạm “Tội đánh bạc” và “Tội gá bạc”. Các bị cáo Cao Văn H, Nguyễn Văn H, Đỗ Hoàng D, Hoàng Viết Tuân, Lê Văn T, Nguyễn Đình T phạm “Tội đánh bạc”.
[1.2]. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322, khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 55, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử bị cáo Trương Đức Q 01 (Một) năm tù về tội gá bạc. Xử phạt bị cáo Trương Đức Q 06 (Sáu) tháng tù về tội đánh bạc. Tổng H hình phạt của hai tội danh bị cáo phải chấp hành 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
[1.3]. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Cao Văn H 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn từ được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2019 đến ngày 24/12/2019.
[1.4]. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đỗ Hoàng D 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2019 đến ngày 24/12/2019.
[1.5]. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hoàng Viết T 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 15/12/2019.
[1.6]. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án và được trừ đi thời hạn tạm giam, tạm giữ từ ngày 15/12/2019 đến ngày 22/01/2020.
[1.7]. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Đình T mỗi bị cáo 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách mỗi bị cáo là 12 (Mười hai) tháng.
Giao các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Đình T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường H bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, về án phí và Q kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 02/6/2020 bị cáo Cao Văn H có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
Ngày 02/6/2020 bị cáo Đỗ Hoàng D có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Cao Văn H và bị cáo Đỗ Hoàng D đều giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa phúc thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355, 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo H, bị cáo D. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 33/2020/HS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, có nội dung và hình thức phù H với quy định tại các Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét kháng cáo của các bị cáo thấy rằng: tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo H và D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu: vào ngày 15/12/2019 bị cáo H sử dụng số tiền 18.000.000 đồng, bị cáo D sử dụng số tiền 4.500.000 đồng để đánh bạc tài nhà bị cáo Q cùng một số bị cáo khác. Hình thức đánh bạc là đánh “phỏm” thắng thua bằng tiền, sòng bạc chơi từ 15 giờ 30 phút đến 18 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện B phát hiện và bắt quả tang với tổng số tiền thu tại chiếu bạc là 32.500.000 đồng, trong đó thu giữ của H 18.000.000 đồng; của D 4.300.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo H và D phạm tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng cho bị cáo H và D các T tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường H ít nghiêm trọng, là người dân lao động, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, riêng bị cáo H được hưởng thêm T tiết đang nuôi con nhỏ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đồng thời, căn cứ vào tính chất và mức độ hành vi, vai trò của từng bị cáo trong vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt hai bị cáo H, D với mức hình phạt ở đầu khung là 06 tháng tù là thỏa đáng, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm được T tiết giảm nhẹ hình phạt nào mới so với cấp sơ thẩm. Do đó, kháng cáo của các bị cáo không có căn cứ để chấp nhận.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ, phù H với nhận định của Hội đồng xét xử.
Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận, nên các bị cáo H, D phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Cao Văn H, Đỗ Hoàng D.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 33/2020/HS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước.
[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Cao Văn H, bị cáo Đỗ Hoàng D, phạm “Tội đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Cao Văn H 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn từ được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2019 đến ngày 24/12/2019.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đỗ Hoàng D 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2019 đến ngày 24/12/2019.
[2] Về án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Cao Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Đỗ Hoàng D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm:
Bị cáo Đỗ Hoàng D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Cao Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
[4] . Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Phước; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Bình Phước; - Sở Tư pháp; - TAND, VKS, CA huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - Bị cáo; Trại giam. - Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa HS. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Viết Hùng |