vanban.org

Bản án 63/2019/HSST — Hình sự

TAND Quận 5, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 07/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Lê Quốc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Vũ Lê Quốc T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 02 năm 2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Lê Quốc T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Lê Quốc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2019/HSST
Ngày: 09/7/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tư Sanh

Ông Đoàn Hồng Hải

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Võ Cao Hoàng Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 09 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2019/HSST ngày 29/5/2019, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2019/HSST-QĐ ngày 25 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Vũ Lê Quốc T, sinh ngày 15 tháng 5 năm 1991 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Thường trú: 30/14 đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 435/21/6 đường M, phường N, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn Q; con bà: Lê Thị B; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2019 (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 27/02/2019, Vũ Lê Quốc T gặp Phạm Minh H ở quán cà phê gần nhà T. Sau đó H điều khiển xe gắn máy biển số 51Z9-7053 chở T qua khu vực đường Phạm Hùng, Quận 8 để đi công việc. Đến nơi H đứng bên ngoài đậu xe chờ còn T đi gặp một thanh niên tên Tuấn (không rõ lai lịch) mua 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) ma túy đá rồi dán vào tờ tiền mệnh giá 1.000đ (một nghìn đồng), bỏ vào ruột điện thoại hiệu LV Mobile (không có pin) của T và sau đó cất điện thoại có giấu ma túy vào túi xách của T và đi ra nói Hiếu chở về nhà. Trên đường đi T có nói H chở qua Quận 5 để mua đồ ăn. Khi cả hai điều khiển xe đến ngã tư đường An Bình-Trần Hưng Đạo, Phường 7, Quận 5 thì bị tổ trinh sát về ma túy - Công an quận 5 kiểm tra và phát hiện trong túi xách của T có cất giấu 01 bịch nylon chứa tinh thể không màu để trong điện thoại LV Mobile (T khai là ma túy) nên đã đưa T, H cùng vật chứng về Công an Phường 7, Quận 5 lập biên bản phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 5, Vũ Lê Quốc T đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên. Phạm Minh H khai T nhờ H chở đi công việc, không có nói với H là T đi mua ma túy và H không biết T cất giữ ma túy trong người.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu được gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Vũ Lê Quốc T và hình dấu Công an Phường 7, Quận 5 (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,2835g (hai phẩy hai tám ba năm gam), loại Methamphetamine. Sau giám định số ma túy còn lại được gói niêm phong số 644/2019/Q5 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình Hải và cán bộ Nguyễn Thành Tấn;

01 (một) túi xách màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone màu đen, số Imei 354382068169782; 01 (một) điện thoại di động hiệu Sky màu trắng; 01 (một) điện thoại hiệu LV Mobile màu vàng, số Imei: 842016068024536; 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobistar màu vàng, số Imei: 352821020283597; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1000đ (một nghìn đồng).

Tại bản Kết luận giám định số 644/KLGĐ-H ngày 05 tháng 3 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu được gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Vũ Lê Quốc T và hình dấu Công an Phường 7, Quận 5 (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,2835g (hai phẩy hai tám ba năm gam), loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số: 68/CTr-VKS ngày 28/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Vũ Lê Quốc T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Vũ Lê Quốc T đã có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với khối lượng 2,2835g (hai phẩy hai tám ba năm gam), loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Lê Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Vũ Lê Quốc T với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo Vũ Lê Quốc T không có ý kiến tự bào chữa, tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 5, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa công khai, bị cáo Vũ Lê Quốc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Vũ Lê Quốc T đã có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với khối lượng 2,2835g (hai phẩy hai tám ba năm gam), loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng là đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết việc tàng trữ trái phép các chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo bất chấp pháp luật tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại; gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời đủ sức răn đe và đấu tranh phòng chống tội phạm, ngoài ra còn có thời gian để bị cáo cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe đối với những người khác có hành vi tương tự.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” không hưởng lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Vũ Lê Quốc T là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Đối với Phạm Minh H là người T nhờ chở đi, T không nói với H là T đi mua ma túy và H không biết T cất giữ ma túy trong người. Do đó không có cơ sở để xử lý đối với Phạm Minh H.

Về xử lý vật chứng:

01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu được gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Vũ Lê Quốc T và hình dấu Công an Phường 7, Quận 5 (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,2835g (hai phẩy hai tám ba năm gam), loại Methamphetamin. Sau giám định số ma túy còn lại được gói niêm phong số 644/2019/Q5 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình Hải và cán bộ Nguyễn Thành Tấn. Xét đây là vật phạm pháp, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

01 (một) túi xách màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone màu đen, số Imei 354382068169782; 01 (một) điện thoại di động hiệu Sky màu trắng; 01 (một) điện thoại hiệu LV Mobile màu vàng, số Imei: 842016068024536; 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobistar màu vàng, số Imei: 352821020283597. Xét đây là tài sản của Vũ Lê Quốc T, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo T.

01 (một) tờ tiền mệnh giá 1000đ (một nghìn đồng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 5 đã trả lại cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Vũ Lê Quốc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Vũ Lê Quốc T 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 02 năm 2019.

Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu được gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Vũ Lê Quốc T và hình dấu Công an Phường 7, Quận 5 (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,2835g (hai phẩy hai tám ba năm gam), loại Methamphetamin. Sau giám định số ma túy còn lại được gói niêm phong số 644/2019/Q5 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình Hải và cán bộ Nguyễn Thành Tấn.

Trả lại cho bị cáo Vũ Lê Quốc T: 01 (một) túi xách màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone màu đen, số Imei 354382068169782; 01 (một) điện thoại di động hiệu Sky màu trắng; 01 (một) điện thoại hiệu LV Mobile màu vàng, số Imei: 842016068024536; 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobistar màu vàng, số Imei: 352821020283597.

(Hiện vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2019).

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ