- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Cao H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cao H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2019/HSST Ngày 23/10/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Anh
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Thùy
2. Bà Hoàng Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nhu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Giáp - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2019 tại phòng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2019/HSST ngày 19 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Cao H, sinh ngày 28 tháng 3 năm 1998 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1970 và con bà Vũ Thị N, sinh năm 1976; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/7/2019 – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Cao H là đối tượng không có nơi ở nhất định và nghiện ma túy. Thông qua mạng xã hội Zalo, H quen biết người phụ nữ tên L, cũng là đối tượng nghiện ma túy đang sinh sống ở huyện D, tỉnh Đắk Nông. Vào khoảng 15 giờ ngày 19/7/2019, H đang ở quận E, thành phố Hồ Chí Minh có đến mua của đối tượng tên K (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) ở quận E, thành phố Hồ Chí Minh 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng, rồi cất giấu vào túi xách, mang theo nhằm mục đích sử dụng. Sau đó H đón xe khách từ thành phố Hồ Chí Minh về tỉnh Đắk Nông để gặp L. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, H xuống xe rồi vào quán cà phê Trà My ở thôn 6, xã E, huyện D, tỉnh Đắk Nông để gặp L, H rủ L đến thuê phòng số 107 nhà nghỉ Toàn Nga (gần quán cà phê Trà My) để nghỉ và cùng sử dụng ma túy. Tại phòng số 107 nhà nghỉ Toàn Nga, H lấy gói ma túy từ trong túi xách ra cùng L sử dụng một ít, phần còn lại H để dưới nền của phòng nghỉ. Đến khoảng 10 giờ ngày 20/7/2019 L ra về thì H lấy gói ma túy trên, dùng bật lửa hàn kín và bỏ vào túi nilon của bao thuốc lá rồi gói lại, cất giấu trong túi xách. Đến 11 giờ cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp đến kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Cao H cùng tang vật. Thu giữ 01 gói nilon, bên trong đựng tinh thể màu trắng (nghi là ma túy đá, trong túi xách của Nguyễn Cao H, được niêm phong, ký hiệu là M01) cùng một số vật dụng dùng để sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 61/KLMT – PC09 ngày 25/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong bì thư gửi đến giám định, ký hiệu M01 có khối lượng 0,3608 gam có Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 323, Nghị định số 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Khối lượng hoàn lại sau giám định là 0,2588 gam chất ma túy là Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số: 50/CT– VKS - ĐL ngày 16 tháng 9 năm 2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Cao H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng và thừa nhận Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng, không oan.
Kết quả tranh luận tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi xem xét các chứng cứ buộc tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Cao H từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù giam.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,2588 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01 ống thủy tinh, dài 06cm, một đầu hình cầu, một đầu hình bầu dục; 01 nắp chai màu xanh, đường kính 03cm, trên nắp chai có đục 02 lỗ nhỏ; 01 bật lửa gas màu trắng, kích thước 02 x 08cm.
Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu mobistar; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung. Quá trình điều tra xác định Nguyễn Cao H không dùng vào việc phạm tội, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp đã trả lại cho Nguyễn Cao H theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Đăk R’Lấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 11 giờ ngày 20/7/2019 tại phòng số 107 nhà nghỉ Toàn Nga, ở thôn 6, xã E, huyện D, tỉnh Đắk Nông. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp đã phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Cao H đang cất giấu 0,3608 gam chất ma túy là Methamphetamine trong túi xách nhằm mục đích sử dụng.
Do vậy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Cao H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
c) Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự xã hội. Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển được mọi hành vi của bản thân trong cuộc sống, bị cáo phải biết được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý là xâm phạm đến sự độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, được pháp luật nghiêm cấm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo được mục đích của hình phạt.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
. Về xử lý vật chứng:
Cần tịch thu tiêu hủy 0,2588 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01 ống thủy tinh, dài 06cm, một đầu hình cầu, một đầu hình bầu dục; 01 nắp chai màu xanh, đường kính 03cm, trên nắp chai có đục 02 lỗ nhỏ; 01 bật lửa gas màu trắng, kích thước 02 x 08cm.
Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu mobistar; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung. Quá trình điều tra xác định Nguyễn Cao H không dùng vào việc phạm tội, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp đã trả lại cho Nguyễn Cao H là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng tên K có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Cao H và đối tượng tên L có hành vi sử dụng ma túy cùng bị cáo. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Xét quan điểm đề nghị của đại diện viện kiểm sát là có căn cứ cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cao H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Nguyễn Cao H 01(Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam ngày 20/7/2019.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,2588 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01 ống thủy tinh, dài 06cm, một đầu hình cầu, một đầu hình bầu dục; 01 nắp chai màu xanh, đường kính 03cm, trên nắp chai có đục 02 lỗ nhỏ; 01 bật lửa gas màu trắng, kích thước 02 x 08cm.
Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp đã trả lại 01 điện thoại di động, nhãn hiệu mobistar; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung cho Nguyễn Cao H không dùng vào việc phạm tội là phù hợp theo quy định của pháp luật.
(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 18-9-2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện D và Cơ quan cảnh sát điều tra huyện Đắk R’Lấp).
3. Về án phí: Căn cứ theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Cao H phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk R’Lấp; - CA huyện Đắk R’Lấp; - CC. THADS huyện D; - Bị cáo; - Lưu: HS,VP. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký và đóng dấu) Trần Ngọc Anh |