vanban.org

Bản án 63/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An Tuyên án 11/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Lô Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Phạt Lô Văn H 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 25/4/2019. Tịch thu tiêu huỷ 07 (Bảy) viên Methamphetamine thu giữ của bị cáo Lô Văn H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lô Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Lô Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ PHONG
TỈNH NGHỆ A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2019/HS-ST
Ngày 11/7/2019

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ A

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Đình Hà.

2. Cầm Bá Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Nhuần, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ A.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên toà:

Bà Vi Thị Minh, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện Q, Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ A xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 55/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Lô Văn H; Tên gọi khác: Không; sinh năm 1990, tại huyện Q, tỉnh Nghệ A.

Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ A; nghề nghiệp: Nguyên lao động tự do; trình độ văn hóa : Lớp 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lô Văn D (Đã chết); con bà : Hà Thị Du; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ A áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/4/2019. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lô Văn H: Bà Tạ Thị A, Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý, chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2 thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ A. Có mặt.

NỘI DU VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội Du vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/4/2019 Lô Văn H đi đến bản Luống, xã M mua 09 viên Methamphetamine với một người không quen biết, để sử dụng. Mua được ma túy bị cáo đi sAg thị trấn Kim Sơn thì bị bắt quả tAg, thu của bị cáo 09 viên nén màu hồng.

Tại cơ quA cảnh sát điều tra Công A huyện Q qua xác định trọng lượng 09 viên nén màu hồng thu giữ của Lô Văn H có khối lượng 0,77 gam.

Bản kết luận giám định số 713/KL- PC09(MT) ngày 03/5/2019 của phòng kỹ thuật Hình sự Công A tỉnh Nghệ A kết luận:

Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lô Văn H gửi tới giám định là Methamphetamine. 09 viên nén màu hồng thu giữ của Lô Văn H có tổng khối lượng 0,77 gam (Không phẩy bảy mươi bảy gam).

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lô Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cụ thể: Vào lúc 20 giờ, ngày 25/4/2019 tại khối 3, thị trấn Kim Sơn, huyện Q, tỉnh Nghệ A, Lô Văn H đAg có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tAg, thu giữ 0,77 gam Methamphetamine. Mục đích bị cáo cất giấu ma túy là để sử dụng.

Bản cáo trạng số 61/CT-VKS- QP ngày 26/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ A truy tố bị cáo Lô Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đối với người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, do không xác minh được họ tên và địa chỉ, nên không có cơ sở để điều tra xử lý.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Q vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lô Văn H từ 12 đến 18 tháng tù.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại; miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Người bào chữa không trAh luận về tội dAh và đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo 12 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung và miễn tiền án phí cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến trAh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội Du vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA điều tra Công A huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử, kiểm sát viên thực hiện quyền công tố, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội Du vụ án: Mặc dù không được các cơ quA nhà nước có thẩm quyền cấp phép, nhưng vào lúc 20 giờ, ngày 25/4/2019 tại khối 3, thị trấn Kim Sơn, huyện Q, tỉnh Nghệ A, bị cáo Lô Văn H đAg cất giấu trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tAg. Thu của bị cáo 0,77 gam Methamphetamine. Bị cáo tàng trữ ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Do đó bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, mà còn làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, nòi giống của con người, xâm phạm trật tự A toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng; bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy cần xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời giA để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo khai báo thành khẩn đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Q đề nghị xử phạt bị cáo Lô Văn H từ 12 đến 18 tháng tù; người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo 12 tháng tù. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa là thấp vì bị cáo có nhân thân xấu.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản đáng giá, thuộc hộ cận nghèo. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 09 viên Methamphetamine. Cơ quA điều tra đã lấy đi giám định chất ma 02 viên, còn lại 07 viên; đây là vật nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Lô Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Phạt Lô Văn H 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 25/4/2019.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 07 (Bảy) viên Methamphetamine thu giữ của bị cáo Lô Văn H.

Chi tiết vật chứng được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận ngày 25/6/2019 giữa Cơ quA cảnh sát điều tra Công A huyện Q với Chi cục thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Nghệ A.

Căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lô Văn H.

Bị cáo Lô Văn H có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ A trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ