vanban.org

Bản án 63/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

tụng dân sự năm 2015.

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 63/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 13-5-2019.
V/v tranh chấp “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Mừng;

2. Ông Trần Thanh Sang.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Dương – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:

Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 13 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 767/2018/TLST-HNGĐ ngày 07

tháng 12 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử

số 75/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Văn T, sinh năm 1971 (Có mặt).

Địa chỉ: p A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.

Chỗ ở hiện nay: Số 6C1, khóm Đông Thạnh 6, phường Mỹ Phước, thành

phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Trần Thị N, sinh năm 1979 (Vắng mặt).

Địa chỉ: p A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn bà ông Nguyễn Văn Ttrình

bày: Ông và bà Trần Thị N cưới nhau vào năm 2003 đến năm 2010

mới đăng ký kết hôn, hôn nhân do tự tìm hiểu và được cha mẹ đồng

ý. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thu ẫn

nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ thường hay cờ bạc, nên thường xuyên cãi nhau. Cha mẹ hai bên nhiều lần hàn gắn nhưng không được. Vợ chồng ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Thấy tình cảm không còn ông yêu cầu ly hôn với bà Trần Thị N. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Văn T1 – Sinh ngày 07/12/2004 và Nguyễn Văn T2 – Sinh ngày 25/3/2009 hiện nay đang sống với ông T. Sau khi ly hôn ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng tự th a thuận không yêu cầu tòa án giải quyết. Về quan hệ nợ chung: Không có.

Bị đơn bà Trần Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để

tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà N vắng mặt không r lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của bà N về nội dung đơn khởi kiện của ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Ông Nguyễn Văn T yêu cầu ly hôn với bà Trần Thị N. Bà N có nơi cư

trú tại ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Trần Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia

phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Thị N là có căn cứ.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Tvà bà Trần Thị N xác lập

quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau vào năm 2003 đến năm 2010 có đăng ký kết hôn kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Ông, bà chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo ông T trình bày vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ thường hay cờ bạc, thường cãi nhau nên ông, bà không còn chung sống với nhau từ năm 2014 đến nay. Ông T xác định tình cảm quan hệ vợ chồng không còn nên ông yêu cầu ly hôn. Bà N đã được tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc ông T khởi kiện yêu cầu ly hôn và thông báo đến tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà N vắng mặt không lý do. Điều này thể hiện vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn Tlà phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về quan hệ con chung: Ông T xác định vợ chồng có 02 con chung

tên Nguyễn Văn T1 – Sinh ngày 07/12/2004 và Nguyễn Văn T2 –

Sinh ngày 25/3/2009 hiện nay đang sống với cha. Sau khi ly hôn ông

T yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu bà N cấp

dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ lúc vợ chồng ly thân

đến nay ông T là người trực tiếp nuôi con chung nên tình cảm, tâm

tư gắn liền với người nuôi dưỡng. Hơn nữa trong quá trình giải

quyết vụ án Tòa án đã tiến hành ghi nhận ý kiến của con chung . Qua

ghi nhận cháu Thiện, cháu Thanh đều có nguyện vọng muốn tiếp tục

sống với cha. Do đó cần để ông Nguyễn Văn Ttiếp tục nuôi cháu

Nguyễn Văn T1 và cháu Nguyễn Văn T2 là phù hợp với Điều 81

Luật hôn nhân và gia đình cũng như nguyện vọng của con.

Do ông Nguyễn Văn Tkhông yêu cầu bà Trần Thị N cấp dưỡng

nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Về quan hệ tài sản chung: ghi nhận ông Nguyễn Văn Ttrình bày tài

sản chung để vợ chồng tự th a thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải

quyết.

Về quan hệ nợ chung: ghi nhận ý kiến của ông Nguyễn Văn Ttrình bày

không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn Tphải chịu án phí sơ thẩm theo quy

định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 146, 147, 227, 235 và Điều 273 Bộ luật tố

tụng dân sự năm 2015.

- Các Điều 51, 56 và Điều 57, Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng

án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Tđược ly hôn với bà Trần

Thị N.

- Về quan hệ con chung: Ông Nguyễn Văn Tđược tiếp tục nuôi con chung

tên Nguyễn Văn T1, sinh ngày 07/12/2004 và Nguyễn Văn T2, sinh

ngày 25/3/2009, bà Trần Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Văn Tcùng các thành viên gia đình (nếu có) không được

cản trở bà Trần Thị N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có

thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về quan hệ tài sản chung: Ghi nhận ông Nguyễn Văn Ttrình bày tài sản

chung để vợ chồng tự th a thuận. Nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về quan hệ nợ chung: Ghi nhận ông Nguyễn Văn Txác định không có

nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của ông, bà trong thời kỳ hôn nhân thì ông Nguyễn Văn Tvà Trần Thị N vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí: Ông Nguyễn Văn Tphải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ

thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000379 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 07 tháng 12 năm 2018. Ông T đã nộp xong.

Ông Nguyễn Văn Tđược quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án.

Bà Trần Thị N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ