vanban.org

Bản án 63/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 19/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dương Ngọc T (C)phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo Dương Ngọc T 05 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08.01.2018. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Ngọc T (C)phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ -TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 63/2018/HSST
Ngày 19.6.2018

NH¢N DANH

N¦íc céng hßa x· héi chñ nghÜa viÖt nam

TßA ¸N NH©N D©N QUËN THANH KHª. tP §µ N½NG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Cường

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận và ông Hoàng Quốc Cường .

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Tâm - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 19.6.2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2018/TLST-HS ngày 02.5.2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2018/QĐXXST-HS ngày 05.6.2018 đối với bị cáo:

Dương Ngọc T (C), sinh năm 1978 tại Đà Nẵng; Nơi cư trú: Tổ XX , quận K, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Dương Văn H và bà Phạm Thị H.

Có vợ là Lê Đan P (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 08.01.2018, bị tạm giam ngày 17.01.2018, có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Ông Nguyễn Tấn Lương D, sinh năm 1980; Chỗ ở hiện nay: Tổ 28 phường Tam Thuận, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng . Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau : Khoảng 14 giờ ngày 08.01.2018, Dương Ngọc T đến bến xe trung tâm Đà Nẵng gặp và nhờ một người thanh niên (không rõ lai lịch) mua 3.000.000 đồng ma túy đá, sau khi mua được ma túy, Thành cất giấu ma túy trong người và đi về nhà tại K32/05 đường Phạm Nhữ T, thành phố Đà Nẵng. Tại đây, Thành giấu 02 gói ma túy ở túi quần phía trước và 01 gói ma túy ở túi quần phía sau. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Công an quận Thanh Khê tiến hành kiểm tra nhà của T, T lấy 02 gói ma túy ở túi quần phía trước, 01 cân điện tử và một số vỏ bao nylong vứt qua cửa sổ rồi nhảy qua cửa sổ bỏ chạy. Khi vừa chạy đến đường luồng giữa hai nhà K32/05 và K32/07 đường Phạm Nhữ T , thành phố Đà Nẵng thì bị Công an bắt quả tang. Thành khai nhận cất giấu 03 gói ma túy trên để sử dụng cho bản thân.

Tại bản kết luận giám định số 07/GĐ-MT ngày 15.01.2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng xác định: “Mẫu tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu G1, G2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu tinh thể G1: 0,354 gam; G2: 5,368 gam”.

Tổng trọng lượng ma túy bị thu giữ là 5,722 gam.

Qua xét nghiệm, T dương tính với ma túy tổng hợp dạng đá.

* Vật chứng thu giữ:

- Mẫu vật hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định số 07/GĐ -MT ngày 15/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà N ẵng.

- 01 cân điện tử màu trắng (không rõ nhãn hiệu) , dùng để kiểm tra ma túy.

- 01 bình thủy tinh, bên trên gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa; 01 cây xúc bằng nhựa, dùng để sử dụng ma túy;

- 10 vỏ bao nylong, dùng đựng ốc vít sửa chữa đồ điện tử;

- Số tiền 2.000.000 đồng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, số Imei: 359232063261594, có gắn sim số 0935508696.

Bản Cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 02.5.2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Dương Ngọc T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa trình bày luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để tuyên bố bị cáo T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", đề nghị xử phạt bị cáo T từ 05 năm tù đến 05 năm 06 tháng tù. Đồng thời Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy còn lại sau giám định, 01cân điện tử màu trắng, 01 bình thủy tinh trên có gắn nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa, 01 cây xúc nhựa, 10 vỏ bao nilon và tuyên trả lại cho bị cáo số tiền 2.000.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, số Imei: 359232063261594, có gắn sim số 0935508696.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Các hành vi, quyết đinh tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp được chấp nhận để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Về nội dung: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Dương Ngọc T đã khai nhận toàn bộ diễn biến sự việc mua, sử dụng và tàng trữ ma túy vào ngày 08.01.2018 tại tổ XX phường K, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng . Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ cũng như kết quả giám định mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để xác định: Vào ngày 08.01.2018, bị cáo Dương Ngọc T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 5, 722 gam ma túy Methamphetamine, hành vi đó đã cấu thành tội phạm quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Xét tính chất vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Ma tuý hiện đang là tệ nạn của xã hội, gây ảnh hư ởng trực tiếp đến sức khoẻ, trí lực của con người và là nguyên nhân của các vi phạm pháp luật khác. Ma túy ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình trật tự an toàn xã hội. Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được những tác hại đó, biết được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi mua, sử dụng và tàng trữ chất ma túy vào ngày 08.01.2018. Theo kết quả giám định của cơ quan chuyên môn, trọng lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ là 5,722gam Methamphetamine, đây là chất ma túy Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, sản xuất và sử dụng. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm hại đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý và đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo ở mức hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cần cách ly bị cáo một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình , bị cáo có ông ngoại là liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng và có hoàn cảnh khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Mẫu vật hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định số 07/GĐ -MT ngày 15.01.2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng, là vật cấm tàng trữ lưu hành nên áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để tuyên tịch thu tiêu hủy.

- 01 cân điện tử màu trắng (không rõ nhãn hiệu) dùng để kiểm tra ma túy; 01 bình thủy tinh, bên trên gắn 01 nỏ thủy tinh; 01 ống hút bằng nhựa; 01 cây xúc bằng nhựa dùng để sử dụng ma túy và 10 vỏ bao nylong dùng đựng ốc vít sửa chữa đồ điện tử là vật không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Số tiền 2.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, số Imei: 359232063261594, có gắn sim số 0935508696 thu giữ của bị cáo Thành không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.

Đối với người thanh niên hiện không rõ lai lịch, địa chỉ có hành vi bán ma túy cho bị cáo T, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ và sẽ xử lý sau.

Bị cáo T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an quận Thanh Khê đã ra Quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định của pháp luật.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo T phải chịu 200.000đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Dương Ngọc T (C)phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Căn cứ: Điểm g khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Dương Ngọc T 05 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08.01.2018.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tuyên tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong một phong bì số 07/GĐ-MT ngày 15/01/2018 có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng ; 01 cân điện tử màu trắng (không rõ nhãn hiệu);01 bình thủy tinh bên trên gắn 01 nỏ thủy tinh; 01 ống hút bằng nhựa; 01 cây xúc bằng nhựa và 10 vỏ bao nylong.

- Tuyên trả lại cho bị cáo số tiền 2.000.000đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, số Imei: 359232063261594, có gắn sim số 0935508696.

Các vật chứng trên hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15.5.2018 và biên lai thu tiền số 7042 ngày 15.5.2018

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Dương Ngọc T phải chịu 200.000đ.

Án xử công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. N¬i nhËn:

Cỡ chữ