vanban.org

Bản án 63/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên Tuyên án 25/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lường Thị P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lường Thị P 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/3/2018. Tịch thu và tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong chứa 24,02 gam Heroine và 1,92 gam Methamphetamine; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy, 01 túi nilon màu xanh, 01 mảnh túi ni…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Thị P phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lường Thị P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUẦN GIÁO
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

.
Bản án số: 63/2018/HS-ST
Ngày: 25/6/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tuân và bà Vàng Thị Bình.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Thị Lượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2018/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lƣờng Thị P, tên gọi khác: Không; sinh ngày 17/02/1975, tại xã C, huyện T, tỉnh Đ. Nơi cư trú: Bản K, xã C, huyện T, tỉnh Đ. Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Con ông Lường Văn O (đã chết), con bà Lường Thị N, sinh năm 1944. Chồng là: Lò Văn T, sinh năm 1971 và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2002. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/3/2018 đến ngày 09/3/2018, chuyển tạm giam ngày 09/3/2018 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời bào chữa cho bị cáo Lƣờng Thị P có ông: Đỗ Xuân Toán, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt.

* Ngƣời có nghĩa vụ liên quan: Họ và tên: Lò Văn S, sinh năm 1994; nơi cư trú: Bản C, xã S, huyện T, tỉnh Đ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 5 giờ 50 phút, ngày 07/3/2018, tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo đang làm nhiệm vụ tại khu vực thủy điện thuộc bản C, xã S, huyện T phát hiện Lò Văn S, sinh năm 1994, trú tại bản C, xã S, huyện T vừa sử dụng Heroine xong, thu giữ trên tay Sơn 01 bật lửa ga màu đỏ và 01 mảnh giấy bạc. Lò Văn S khai nhận số Heroine S vừa sử dụng là mua của Lường Thị P, trú tại bản K, xã C, huyện T, tỉnh Đ vào sáng ngày 07/3/2018, với giá 100.000đ.

Khám xét khẩn cấp đối với Lường Thị P, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo phát hiện và thu giữ trong túi thổ cẩm treo trên cành cây nhãn 01 gói ni lông màu xanh bên trong chứa 02 gói, trong đó 01 gói chất bột màu trắng nghi là Heroine và 01 gói chứa 20 viên màu hồng nghi ma túy tổng hợp.

Tại cơ quan điều tra bị cáo Lường Thị P khai nhận rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy như sau: Khoảng 4 giờ ngày 07/3/2018, P đang ngủ ở nhà thì nghe tiếng gọi, hỏi P có nhà không. P trả lời có và đi ra mở cửa thì thấy một người đàn ông đang đứng ở ngoài. Người đó nói bằng tiếng dân tộc Thái, giới thiệu tên là Ph nhà ở xã C. Người đó nói: Em có 01 cục Heroine và 20 viên hồng, chị có mua không? P: Chú bán thế nào, người đó trả lời: Bán với giá 10.000.000đ. Pâng nhất trí mua rồi vào nhà lấy tiền trả. Người đàn ông đó đưa cho P 01 túi thổ cẩm đựng Heroine và viên ma túy tổng hợp. Việc mua bán chỉ có hai người biết, không cân xác định trọng lượng. P nhận ma túy rồi đem treo lên cành nhãn trước nhà để ai mua thì bán cho tiện. Đến khoảng 8 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo đến khám xét phát hiện và thu giữ toàn bộ số Heroine và 20 viên ma túy tổng hợp.

Ngày 08/3/2018, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu giám định. Khối lượng 01 gói Heroine thu của bị cáo có khối lượng 24,16 gam; 20 viên nén (Methamphetamine) có khối lượng 2,01 gam. Cơ quan điều tra đã tiến hành trích mẫu gửi giám định đối với số chất bột màu trắng và 20 viên nén nghi ma túy tổng hợp thu được của Lường Thị P.

Tại bản Kết luận giám định số: 351/GĐ - PC54 ngày 28/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định trích ra từ vật chứng thu giữ của bị cáo Lường Thị P là chất ma túy: Loại Heroine; Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy STT: 20, Danh mục I, Nghị định 82/2013/NĐ - CP ngày 19/7/2013. Mẫu viên nén màu hồng gửi giám định trích ra từ vật chứng thu giữ của Lường Thị P là chất ma túy loại: Methamphetamine; Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 67, Danh mục II, Nghị định 82/2013/ NĐ - CP ngày 19/7/2013.

Bản cáo trạng số: 42/CT-VKS ngày 15/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo Lường Thị P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lường Thị P từ 11 (mười một) năm đến 12 (mười hai) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong có chứa 24,02 gam Heroine và 1,92 gam Methamphetamine; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy, 01 túi nilon màu xanh, 01 mảnh túi nilon màu xanh, 01 túi thổ cẩm đã qua sử dụng.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung đã khai tại cơ quan điều tra và nội dung của bản cáo trạng. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí quan điểm truy tố của Viện kiểm sát. Đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa vắng mặt người có nghĩa vụ liên quan Lò Văn S, xét thấy sự vắng mặt của người có nghĩa vụ liên quan không trở ngại cho việc xét xử nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại điều 292 của BLTTHS năm 2015.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản khám xét, biên bản mở niêm phong, xác định trọng lượng và bản kết luận giám định. Do đó, hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vì mục đích kiếm lợi nhuận, bị cáo Lường Thị P đã mua trái 24,16 gam Heroine và 2,01 gam Methamphetamine về tàng trữ nhằm mục đích bán thu lợi. Bị cáo chưa kịp bán cho ai thì vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 07/3/2018, bị tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo khám xét, phát hiện và thu giữ toàn bộ số Heroine và ma túy tổng hợp bị cáo cất giấu trong chiếc túi treo trên cành cây nhãn. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm được quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:

i, Heroine, cocain, Methamphetamine… có khối lượng từ 5 gam đến dưới 30 gam,

….

p, Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất ma túy tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này”.

Trong vụ án này bị cáo Lường Thị P có hành vi tàng trữ hai chất ma túy khác nhau là 24,16 gam Heroine và 2,01 gam Methamphetamine. Theo quy định tại khoản 4 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ qui định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì trong trường hợp có 02 chất ma túy được qui định trong cùng một điểm của điều luật thì tiến hành cộng lại để lấy tổng khối lượng 02 chất ma túy đó đối chiếu và xác định khung khoản của điều luật. Lường Thị P tàng trữ 02 chất ma túy Methaphetamine và Heroine. Riêng về khối lượng Heroine đã thỏa mãn khung hình phạt qui định tại điểm i khoản 2 Điều 251 BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2017, cộng thêm 2,01 gam Methamphetamine thì tổng khối lượng 02 chất ma túy là 26,17 gam, tương đương điểm i khoản 2 của điều luật. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp được qui định tại điểm p khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bởi vậy, VKSND huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm p khoản 2 Điều 251 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Đối với lời khai của Lò Văn S đã khai mua Heroine của bị cáo Lường Thị Pâng, bị cáo không thừa nhận. Ngoài lời khai của Lò Văn S, không có chứng nào chứng minh việc bị cáo bán Heroine cho S nên không có cơ sở qui kết bị cáo đã bán Heroine cho Lò Văn S.

Xét tính chất vụ án thấy rằng, bị cáo phạm tội nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự, an toàn xã hội, làm tăng tệ nạn nghiện ma túy trên địa bàn huyện. Bị cáo nhận thức được sự nguy hiểm của hành vi, tác hại của ma túy đối với con người nhưng vì lợi nhuận vẫn thực hiện. Do đó, cần phải xử lý nghiêm minh, để đảm bảo trật tự kỷ cương xã hội.

Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy rằng: Bị cáo sinh ra lớn lên tại tại xã C, huyện T, tỉnh Đ, không đi học mà ở nhà lao động sản xuất. Đến tuổi trưởng thành lập gia đình với Lò Văn T. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo có bố đẻ là Lường Văn O có công với nhà nước được tặng thưởng huy chương kháng hạng nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, cần áp dụng cho bị cáo; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Song, xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, hậu quả mà tội phạm ma túy gây ra cho xã hội rất nặng nề, gây bức xúc, lo lắng trong nhân dân nên cần áp dụng hình phạt tù giam để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa giáo dục chung với mức hình phạt từ 09 đến 10 năm là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Các vấn đề khác: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa không làm rõ được người đàn ông tên Phan có địa chỉ ở đâu đã bán ma túy cho bị cáo nên HĐXX không có căn cứ xem xét xử lý.

Đối với Lò Văn S là người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cơ quan CSĐT Công an huyện Tuần Giáo đã ra quyết định xử lý hành chính đối với Lò Văn Sơn là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 24,02 gam Heroine và 1,92 gam Methamphetamine còn lại sau giám định, là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần áp dụng điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 BLTTHS năm 2015 tịch thu để tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo sinh sống ở bản K, xã C, huyện T, tỉnh Đ là xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử vụ án là đúng qui định của BLTTHS thể hiện được tính chính xác, khách quan của vụ án. Bị cáo không có khiếu nại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 của BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106; Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Bị cáo Lường Thị P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

- Xử phạt bị cáo Lường Thị P 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/3/2018.

- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong chứa 24,02 gam Heroine và 1,92 gam Methamphetamine; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy, 01 túi nilon màu xanh, 01 mảnh túi nilon màu xanh, 01 túi thổ cẩm đã qua sử dụng. Đặc điểm vật chứng theo Phiếu nhập kho số PNKVC58 ngày 16/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo.

- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/6/2018).

Cỡ chữ