vanban.org

Bản án 63/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 21/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Mạnh C phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt Vũ Mạnh C 7 (bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321, khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Phạt tiền bị cáo Vũ Mạnh C 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nƣớc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Mạnh C- Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Mạnh C phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2018/HS-ST
Ngày 21-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải và bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiên - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2018/HSST ngày 23-10-2018, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 61/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Vũ Mạnh C, sinh năm 1989, tại Q, T, Hải Dƣơng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn M, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Mạnh T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nguyễn Thùy T; tiền án: Bản án hình sự phúc thẩm số 36B ngày 29/5/2017 của TAND tỉnh Hải Dƣơng xử phạt Vũ Mạnh C 07 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thức thách 14 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Ngày 29/7/2018, C chấp hành xong thời gian thử thách của án treo; tiền sự: Không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Quang V, sinh năm 1995.

+ Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1991.

Đều trú tại: thôn M, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

Anh V có đơn xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1993.

Trú tại: thôn M, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vũ Mạnh C đã có một tiền án về tội “Đánh bạc” chƣa đƣợc xóa án tích. Khoảng 13 giờ, ngày 30/7/2018, C đến nhà anh Nguyễn Quang V ở cùng thôn chơi. Khoảng 14 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn H là ngƣời cùng thôn đến, C và H đi vào khu vực gian để đồ của xƣởng làm nem, thấy bộ bài tú lơ khơ có sẵn, H nói “làm tí liêng”, C đồng ý, cùng H ngồi xuống nền nhà đánh bạc trái phép đƣợc thua bằng tiền dƣới hình thức đánh liêng. Khi C và T đang đánh bạc thì Nguyễn Văn Q ở cùng thôn đến xem. Hải đƣa cho Q 10.000 đồng và nhờ Q đi mua bộ bài tú lơ khơ mới để tiếp tục đánh bạc. Sau đó Nguyễn Quang V vào tham gia đánh bạc, đến 16 giờ 20 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Tứ Kỳ bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 2.570.000 đồng và 02 bộ bài tú lơ khơ, thu trong ngƣời V 1.500.000 đồng, thu trong ngƣời H 4.200.000 đồng.

Đánh bạc đƣợc thua bằng tiền dƣới hình thức đánh “Liêng” là những ngƣời chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân, chia cho mỗi ngƣời chơi 03 quân bài, sau đó ngƣời chơi cầm 03 quân bài lên tính điểm. To nhất là 3 quân bài cùng một thứ tự (gọi là sáp- Át là to nhất, 2 là nhỏ nhất); thứ hai là 3 quân bài có thứ tự liên tiếp nhau (gọi là liêng); thứ ba là 3 quân bài có hình ngƣời (gọi là ảnh); cuối cùng là so điểm, to nhất là 9 điểm, nhỏ nhất là 0 điểm (lá bài 10, J, Q, K tính là 0 điểm), nếu cùng điểm thì tính theo chất rô, cơ, tép, bích. Sau khi so bài, nếu ngƣời có sáp hoặc liêng, ảnh hoặc nhiều điểm hơn thì thắng, nếu ngƣời có sáp thắng thì mỗi ngƣời chơi còn lại phải trả cho ngƣời thắng 30.000 đồng, nếu ngƣời có liêng đồng hoa thắng thì mỗi ngƣời chơi còn lại phải trả cho ngƣời có liêng 30.000 đồng của tất cả những ngƣời giam gia chơi và tiếp tục chia ván tiếp theo. Những ngƣời chơi tự quy định trƣớc mỗi ván bài, mỗi ngƣời phải bỏ ra 10.000 đồng để đặt tiền cƣợc (tiền gà), quá trình đánh bài, ngƣời nào tố thì mức đặt cao nhất là 50.000 đồng, ngƣời chia đƣợc quyền tố trƣớc, sau đó thứ tự lần lƣợt từng ngƣời có quyền “cân” (tức chấp nhận số tiền ngƣời tố trƣớc đƣa ra), hoặc “tố” thêm (tức đặt tiền cao hơn ngƣời tố trƣớc), ai không theo thì coi nhƣ bị thua ván đó.

Tài liệu điều tra xác định: Khi tham gia đánh bạc, C khai có 700.000 đồng, sử dụng vào việc đánh bạc. H khai có 5.000.000 đồng vay của V trƣớc đó để mua điện thoại di động, H sử dụng 800.000 đồng để đánh bạc, còn 4.200.000 đồng cất trong ngƣời không sử dụng đánh bạc. V khai có 1.000.000 đồng, sử dụng vào việc đánh bạc, khi bị bắt V thắng 800.000 đồng, để 300.000 đồng tại chiếu bạc, 1.500.000 đồng trong ngƣời. Tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 4.070.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 60/CT-VKS-TK ngày 19-10-2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Vũ Mạnh C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Tuyên bố bị cáo Vũ Mạnh C phạm tội “Đánh bạc”; xử phạt Vũ Mạnh C từ 7 đến 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án; Áp dụng khoản 2 Điều 35, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Vũ Mạnh C từ 10 đến 15 triệu đồng nộp vào ngân sách Nhà nƣớc; Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc số tiền 4.070.000 đồng do phạm tội mà có; Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố và luận tội của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là đúng và đề nghị Tòa án áp dụng mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, lời khai của ngƣời làm chứng, vật chứng thu giữ, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng từ 14 giờ đến 16 giờ 20 phút, ngày 30/7/2018, tại nhà ở của Nguyễn Quang V ở thôn M, xã Q, huyện Tứ Kỳ. Vũ Mạnh C đã có hành vi đánh bạc trái phép đƣợc thua bằng tiền với hình thức đánh liêng với Nguyễn Văn H và Nguyễn Quang V thì bị bắt quả tang, thu giữ tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 4.070.000 đồng; Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc hành vi đánh liêng đƣợc thu bằng tiền là trái phép, song vì ý thức coi thƣờng pháp luật nên đã cố ý thực hiện. Mặc dù số tiền bị cáo đánh bạc dƣới 5 triệu đồng, nhƣng do bị cáo đã bị kết án về tội “Đánh bạc” chƣa đƣợc xoá án tích nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, nhƣ quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm hại đến trật tự an toàn công cộng, làm mất trật tự trị an xã hội ở địa phƣơng mà còn là nguyên nhân làm tăng tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Do vậy, cần xem xét xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo thấy rằng: Mặc dù bị cáo đã có một tiền án chƣa đƣợc xóa án tích, nhƣng do số tiền sử dụng vào việc đánh bạc trong vụ án này dƣới mức định lƣợng quy định của Bộ luật Hình sự nên lần bị cáo bị kến án của bản án trƣớc là điều kiện để xử lý bị cáo ở lần phạm tội này nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài việc áp dụng hình phạt chính, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo C 10 triệu đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 321, khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 4.070.000 đồng thu tại chiếu bạc và trong ngƣời của V đây là tiền sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc. Đối với số tiền 4.200.000 đồng thu trong ngƣời của Hải không sử sụng vào việc đánh bạc, Công an huyện Tứ Kỳ đã trả lại cho H nên không đặt ra xử lý. Đối với 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với Nguyễn Văn H và Nguyễn Quang V có hành vi đánh bạc nhƣng do tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc chƣa đủ 5.000.000 đồng và đều chƣa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên chƣa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Công an huyện Tứ Kỳ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H và V là đúng quy định. Đối với Nguyễn Văn Q biết C, V, H đánh bạc trái phép nhƣng vẫn mua bộ bài tú lơ khơ để những ngƣời trên đánh bạc là hành vi giúp sức đánh bạc, do số tiền đánh bạc dƣới 5 trệu đồng và Q chƣa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên chƣa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên không bị xử lý về hình sự là đúng quy định nhƣng phải bị xử phạt hành vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Công an huyện Tứ Kỳ không xem xét ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là thiếu sót, kiến nghị Công an huyện Tứ Kỳ xem xét xử lý hành chính về hành vi giúp sức đánh bạc đối với Nguyễn Văn Q.

Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Mạnh C phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt Vũ Mạnh C 7 (bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321, khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Phạt tiền bị cáo Vũ Mạnh C 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nƣớc.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.

+ Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nƣớc số tiền 4.070.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ.

(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tình trạng, đặc điểm theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 19-11-2018).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về ... án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Vũ Mạnh C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đƣợc quyền kháng cáo về những nội dung có liên quan trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ