vanban.org

Bản án 63/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Tuyên án 27/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyªn bè: BÞ cáo Trần Quang Th ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.

¸p dông điểm c khoản 1 Điều 249, ®iÓm s kho¶n 1, khoản 2 §iÒu 51, ĐiÒu 38 Bộ luật hình sự. Ph¹t bị cáo Trần Quang Th 01(một) năm 03(ba) tháng tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t t¹m gi÷ 10/6/2018. VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Quang Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyªn bè: BÞ cáo Trần Quang Th ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƢNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2018/HS-ST
Ngày 27-9-2018.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tạ Văn Tấn

2. Bà Trần Thị Thủy

- Thư ký phiên toà: Bà Doãn Thị Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H - tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Đào Duy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61 /2018/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Quang Th, sinh ngày 20/10/1973; đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 3/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang T và bà Trần Thị C (đã chết); có vợ Lê Thị L và 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 3/10 sau đó nghỉ học ở nhà lao động tự do. Ngày 21/5/2014, bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 10/6/2018, đến ngày 13/6/2018 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình “có mặt”.

Những người làm chứng:

1. Ông Trần Đình L, sinh năm 1949 “vắng mặt”. Trú tại: Thôn Tân D, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

-1

2. Anh Trần Hữu C, sinh năm 1989 “vắng mặt”. Trú tại: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 15 giờ 45 phút ngày 10/6/2018, tại trục đường ĐT453, khu vực ngã ba thôn Đ, xã H, huyện H, tổ công tác Công an huyện H, phát hiện, bắt quả tang Trần Quang Th có hành vi cất giấu trong lòng bàn tay trái 03 (ba) gói giấy tráng kim, mở kiểm tra bên trong đều có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục. Th khai nhận đó là ma túy (Heroin), mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác Công an huyện H, đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong 03 gói ma túy trên trước sự chứng kiến của những người làm chứng. Ngoài ra, còn thu giữ, quản lý của Trần Quang Th 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu GOLY (G1070) màu xám đã qua sử dụng; 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Suzuki Smash màu đỏ, đen, biển kiểm soát 17L1-2200 và số tiền 325.000 đồng. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Quang Th, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Tại Bản kết luận giám định số 235/KLGĐ - PC54 ngày 11/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng 0,2089gam (Không phẩy hai nghìn không trăm tám mươi chín gam). Hêrôin STT: 09, Danh mục I, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.”

Bản cáo trạng số 64/2018/KSĐT ngày 05-9-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trần Quang Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Trong phần tranh luận vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Quang Th như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Trần Quang Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS; xử phạt bị cáo Trần Quang Th từ 01 năm 3 tháng tù đến 01 năm 6 tháng tù; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Th; Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 BLHS: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 235/KLGĐ - PC54 ngày 11/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái

-2

Bình; trả lại bị cáo Th 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu GOLY (G1070) màu xám đã qua sử dụng và số tiền 325.000 đồng; bị cáo Trần Quang Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần Quang Th nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội, chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:

Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện H, lập hồi 16 giờ 05 phút ngày 10/6/2018, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã H, huyện H (Bút lục từ số 06 đến số 09); biên bản khám xét do Công an huyện H lập hồi 18 giờ ngày 10/6/2018 tại nhà ở của Trần Quang Th (Bút lục số 15, 16); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện H lập hồi 17 giờ 50 phút ngày 10/6/2018 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã H, huyện H (Bút lục số 10); biên bản kiểm tra điện thoại do Công an huyện H lập hồi 19 giờ 15 phút ngày 10/6/2018 tại trụ Công an xã H, huyện H (Bút lục số 23); bản kết luận giám định số 235/KLGĐ

- PC54 ngày 11/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (Bút lục số 22); lời khai của những người làm chứng: ông Trần Đình L và anh Trần Hữu C (Bút lục từ số 60 đến số 67). Bị cáo Trần Quang Th đủ tuổi, có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ 45 phút ngày 10/6/2018, tại trục đường ĐT453, khu vực ngã ba thôn Đ, xã H, huyện H, Trần Quang Th, sinh năm 1973, nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện H, đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2089 gam (Không phẩy hai nghìn không trăm tám mươi chín gam) Hêrôin, mục đích để sử dụng. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Trần

-3

Quang Th đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Th là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

XÐt tÝnh chÊt, møc ®é nguy hiÓm hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o: Hµnh vi tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tóy mµ bÞ c¸o Trần Quang Th thùc hiÖn lµ nguy hiÓm cho x· héi, ®· x©m ph¹m chính sách độc quyền qu¶n lý của Nhµ N íc về c¸c chÊt ma tóy. Hµnh vi cña bÞ c¸o cßn lµm mÊt trËt tù trÞ an vµ g©y bÊt b×nh trong quÇn chóng nh©n d©n t¹i ®Þa ph ¬ng và là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác như trộm cắp tài sản, giết người, cướp giật tài sản ….

Xét thân nhân của bị cáo, c¸c t×nh tiÕt t¨ng nÆng, gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù: Bị c¸o Trần Quang Th không bÞ ¸p dông t×nh tiÕt t¨ng nÆng tr¸ch nhiÖm h×nh sù nào theo quy ®Þnh t¹i ĐiÒu 52 BLHS, quá trình điều tra và t¹i phiªn toµ h«m nay bị cáo khai b¸o thµnh khÈn, bố mẹ của bị cáo là người có công với cách mạng nªn bị cáo ® îc ¸p dông các t×nh tiÕt gi¶m nhÑ theo quy ®Þnh t¹i ®iÓm s kho¶n 1, khoản 2 §iÒu 51 BLHS, trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Từ những nhận xét trên, HĐXX thấy cÇn ph¶i tiếp tục c¸ch ly bÞ c¸o khái cuéc sèng x· héi trong mét thêi gian nhÊt ®Þnh, míi cã t¸c dông gi¸o dôc, c¶i t¹o bÞ c¸o nãi riªng vµ phßng ngõa chung cho x· héi.

Về nguồn gốc ma túy và số tiền mua ma túy, Trần Quang Th khai: Khoảng 13 giờ ngày 10/6/2018, Th đang đi gặt lúa ở cánh đồng thì nhận được điện thoại của anh Bùi Hữu H, sinh năm 1965, trú tại: thôn Đ, xã H, huyện H, nhờ Th đi mua ma túy về cùng sử dụng. Sau đó Th đến nhà anh H, anh H đưa cho Th 220.000 đồng để mua ma túy. Th cầm tiền và một mình đi lên khu vực thị trấn Hưng Nhân, huyện H, gặp và mua 02 gói ma túy của một người phụ nữ khoảng 70 tuổi, không rõ tên, địa chỉ cụ thể với giá 200.000 đồng, còn 20.000 đồng để đổ xăng. Trên đường đi về đến khu vực đường Thái Hà, Th chia nhỏ gói ma túy vừa mua thành 03 gói, mục đích là đưa cho H 02 gói, còn 01 gói Th giữ lại để sử dụng. Khi đi đến khu vực ngã ba thôn Đồng Trang, xã H, huyện H, thì bị lực lượng Công an huyện H, phát hiện, bắt quả tang. Cơ quan cảnh sát điều tra, xác định: Anh H là bạn với bị cáo Th và ở cùng xã, ngày 10/6/2018, anh H điện thoại cho Th để tâm sự và hỏi thăm sức khỏe, anh H không gặp, không đưa tiền nhờ Th mua hộ ma túy. Ngoài lời khai của Trần Quang Th không còn tài liệu, chứng cứ nào chứng minh anh Hanh đưa tiền nhờ Th mua hộ ma túy vào ngày 10/6/2018. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình không xử lý đối với anh H là đúng quy định pháp luật; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H

-4

đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được con người cụ thể đã bán đã bán ma túy cho Th nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trần Quang Th là người nghiện ma túy, không nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Công an huyện H, tỉnh Thái Bình đã tiến hành xác minh, xác định chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe máy biển kiểm soát 17L1-2200 là chị Lê Thị L (vợ bị can Th). Chị Lanh không biết Th sử dụng chiếc xe máy trên để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại chiếc xe máy trên cho chị Lanh là đúng theo quy định của pháp luật. Còn 0,1818gam (Không phẩy một nghìn tám trăm mười tám gam)ma túy, loại hêroin mẫu giám định hoàn lại thu của Trần Quang Th bao gói trong bao niêm phong số 235/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật chứng của vụ án cần tịch thu để tiêu huỷ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu GOLY (G1070) màu xám đã qua sử dụng và số tiền 325.000 đồng là tài sản hợp pháp của bị cáo Th không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại Trần Quang Th, nhưng tiếp tục quản lý số tiền để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo Trần Quang Th phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyªn bè: BÞ cáo Trần Quang Th ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.

2. ¸p dông điểm c khoản 1 Điều 249, ®iÓm s kho¶n 1, khoản 2 §iÒu 51, ĐiÒu 38 Bộ luật hình sự. Ph¹t bị cáo Trần Quang Th 01(một) năm 03(ba) tháng tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t t¹m gi÷ 10/6/2018.

3. VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.

3.1 Tịch thu để tiêu huỷ 0,1818gam (Không phẩy một nghìn tám trăm mười tám gam)ma túy, loại hêroin thu của Trần Quang Th bao gói trong bao niêm phong số 235/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

3.2 Trả lại bị cáo Th 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu GOLY (G1070) màu xám đã qua sử dụng và số tiền 325.000 đồng, nhưng tiếp tục quản lý số tiền 325.000 đồng để đảm bảo thi hành án.(Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình đang quản lý).

-5

4. VÒ ¸n phÝ: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, bÞ c¸o Trần Quang Th ph¶i chÞu 200.000đồng tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.

5. BÞ c¸o Trần Quang Th cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n. * Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

ơ

- VKSND huyện H;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(

- Chi cục THADS huyện H;

- Công an huyện H;

(đã ký)

- Bị cáo;

Trần Thị Nhàn

- Lưu hồ sơ. TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH THÁI BÌNH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hưng Hà, ngày 27 tháng 9 năm 2018

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 09 giờ 15 ngày 27 tháng 9 năm 2018

-6

Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Tấn và bà Trần Thị Thủy.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Quang Th, sinh ngày 20/10/1973; Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Căn cứ vào các Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:

1. Tuyªn bè: BÞ cáo Trần Quang Th ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

¸p dông điểm c khoản 1 Điều 249, ®iÓm s kho¶n 1, khoản 2 §iÒu 51, ĐiÒu 38 Bộ luật hình sự.

Ph¹t bị cáo Trần Quang Th 01(một) năm 03(ba) tháng tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t t¹m gi÷ 10/6/2018.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.

3.1 Tịch thu để tiêu huỷ 0,1818gam (Không phẩy một nghìn tám trăm mười tám gam)ma túy, loại hêroin thu của Trần Quang Th bao gói trong bao niêm phong số 235/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

3.2 Trả lại bị cáo Th 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu GOLY (G1070) màu xám đã qua sử dụng và số tiền 325.000 đồng, nhưng tiếp tục quản lý số tiền 325.000 đồng để đảm bảo thi hành án.(Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình đang quản lý).

4. VÒ ¸n phÝ: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; bÞ c¸o Trần Quang Th ph¶i chÞu 200.000®ồng tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.

5. BÞ c¸o Trần Quang Th cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.

Kết quả biểu quyết 3/3.

-7

Nghị án kết thúc vào hồi 9 giờ 30 phút, ngày 27-9-2018.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ