vanban.org

Bản án 63/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Tuyên án 12/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

sự đối với các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Văn Q.

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Văn Q phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T và đồng bọn phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? sự đối với các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 63/2018/HS-ST

Ngày: 12/11/2018

HUYỆN HẢI HẬU Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Văn Thung. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Kiêm; Ông Đỗ Việt Hùng. - Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Dung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Côn - Kiểm sát viên. Ngày 12 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2018/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2018 đối với các bị cáo: 1. Trần Văn T, sinh năm 1982 tại xã NT; nơi ĐKHKTT: Xóm 6, xã NT, huyện NH, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Khu du lịch thị trấn TL, huyện HH, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lễ T nhà nghỉ; trình độ văn hóa lớp 9/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Kim T1, sinh năm 1950 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1950; vợ là Phạm Thị Phương L, sinh năm 1984 và 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2016. Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 29/5/2018, bị Công an thị trấn Thịnh Long xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2018 đến ngày 21/7/2018 thì chuyển tạm giam cho đến nay. “có mặt”

2. Nguyễn Văn Q, sinh năm 1985 tại thị trấn CT; nơi ĐKHKTT: Xóm Bắc Lương, thị trấn CT, huyện TN, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Khu du lịch thị trấn TL, huyện HH, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Kinh doanh nhà nghỉ; trình độ văn hóa lớp 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1958 và bà Lương Thị H1, sinh năm 1960; vợ là Nguyễn Thị D, sinh năm 1986 và 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2018 đến ngày 21/7/2018 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. “có mặt” - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đinh Xuân P, sinh năm 1988; nơi cư trú: TDP số 1, thị trấn TL, huyện HH, tỉnh Nam Định. “vắng mặt” - Người làm chứng: 1. Anh Trần Ngọc S, sinh năm 1975; nơi cư trú: TDP số 11, thị trấn TL, huyện HH, tỉnh Nam Định. “vắng mặt” 2. Anh Nguyễn Xuân T3, sinh năm 1982; nơi cư trú: TDP số 21, thị trấn TL, huyện HH, tỉnh Nam Định.“vắng mặt” 3. Chị Phạm Thị Phương L, sinh năm 1984; nơi cư trú: Xóm 6, xã NT, huyện NH, tỉnh Nam Định. “có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 12/7/2018 trước khi diễn ra trận đấu giữa đội tuyển Anh và đội tuyển Croatia, Trần Văn T lên mạng tải tỷ lệ kèo cá cược của trận đấu rồi ghi vào 01 quyển sổ ô li và theo dõi diễn biến của trận đấu tại quầy lễ T của Nhà nghỉ Ngọc Linh thuộc khu du lịch thị trấn TL. Khoảng 0 giờ 30 phút cùng ngày, Đinh Xuân P đến Ki ốt của Nguyễn Văn Q, Q nhờ P trông coi ki ốt để đi công việc. P đồng ý và bật ti vi lên xem trận đấu giữa đội tuyển Anh và Croatia. Khoảng 01 giờ 10, khi trận đấu diễn ra được 10 phút, tỉ số là 1- 0 nghiêng về đội tuyển Anh thì Q về xem cùng P. Quá trình xem, Q nói với P “Chắc anh bắt xỉu thôi, 3 quả” (nghĩa là Q tham gia cá độ kèo xỉu với số tiền 3 triệu đồng). Thấy vậy, P nói với Q “Cho em theo hai quả với” (tức là P cùng tham gia cá độ kèo xỉu với số tiền 2 triệu đồng). Q nhất trí lấy điện thoại di động Iphone 6 có số thuê bao 0947850168 gọi đến số thuê bao 0914379668 của Trần Văn T hỏi về kèo tài xỉu và tỷ lệ cá độ của trận đấu, T lấy

quyển sổ kẻ ô li đã ghi tỷ lệ trước đó ra xem và bảo Q “Xỉu 2 ½ ăn 94”. Nghe xong Q nói với T “Anh em mình làm tý, em bắt kèo này 5 quả nhé” (Tức là Q cá độ với T số tiền 5 triệu đồng), nếu hết 90 phút chính thức của trận đấu có kết quả dưới 2 bàn thắng thì Q được hưởng số tiền theo tỷ lệ 5 x 9,4 = 4,7 triệu đồng của T và không phải đưa cho T số tiền 5 triệu như đã thỏa thuận, nếu có 2 bàn thắng thì 2 bên hòa không mất tiền; nếu có trên 2 bàn thắng thì Q phải đưa cho T số tiền 5 triệu đồng. T đồng ý nhận kèo cá cược của Q và trả lời “rồi”. Đến 01 giờ 23 phút cùng ngày, Qdùng điện thoại nhắn tin cho T với nội dung “Xỉu 2 ½ an 94, 5q” để xác nhận với T. Thấy vậy, T gọi điện thoại lại hỏi Q “mày nhắn gì vậy?”, Q trả lời “Đấy, chỗ anh em mình cá độ đấy”, T đồng ý và nói “OK”. Sau khi nhắn tin và gọi điện với T để cá độ bóng đá, Nguyễn Văn Q đã xóa toàn bộ nội dung tin nhắn và lịch sử cuộc gọi trong điện thoại để tránh bị phát hiện. Đến 01 giờ 40 phút cùng ngày, Trần Văn T đang xem trận bóng đá giữa đội tuyển Anh và Croatia (chưa kết thúc 90 phút chính thức) tại nhà nghỉ Ngọc Linh thì bị Công an huyện kiểm tra phát hiện và triệu tập thêm Nguyễn Văn Q đưa đến Công an thị trấn TL, huyện HH lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Thu giữ của T 01 quyển sổ kẻ ô li nhãn hiệu “Phúc Thịnh” bìa ngoài có hình hoa hồng; 01 điện thoại di động Philips có số thuê bao 0914379668; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Pro có số thuê bao 0934379777 và 01 ví da bên trong có 01 giấy phép lái xe, 01 chứng minh thư nhân dân, 01 thẻ ATM của ngân hàng Agribank đều mang tên Trần Văn T và số tiền 1.845.000đ; thu giữ của Nguyễn Văn Q 01 điện thoại di động Iphone 6 vỏ màu vàng có số thuê bao 0947850168. Căn cứ lời khai của Q, Cơ quan điều tra triệu tập Đinh Xuân P làm việc. Trần Văn T, Nguyễn Văn Q, Đinh Xuân P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, Nguyễn Văn Q đã tự nguyện giao nộp số tiền cá độ bóng đá là 3.000.000đ. Cáo trạng số 63/CT-VKSHH ngày 19/10/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Văn Q về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. * Tại phiên tòa: Các bị cáo thành khẩn khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung vụ án đã nêu trên. Người làm chứng chị L có mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đinh Xuân P và những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa có lời khai lưu tại hồ sơ vụ án phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu thực hành quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng như bản cáo trạng số 63/CT-VKSHH ngày 19/10/2018 cụ thể: - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn T; đề nghị xử phạt Trần Văn T từ 6 (sáu) đến 9 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2018. - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Q; đề nghị xử phạt bị cáo Q từ 9 (chín) đến 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Q. Đề nghị khấu trừ 9 ngày bị cáo đã bị tạm giữ trước đó. Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Buộc các bị cáo phải chịu án phí Hình sự theo quy định của pháp luật. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng của vụ án đã thu giữ trong quá trình điều tra. Trong quá trình điều tra và phần tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên, các bị cáo không có ý kiến tranh luận về quyết định truy tố của Viện kiểm sát đã đề nghị. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi đúng như nội dung vụ án đã nêu; các bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Những chứng cứ xác định có tội: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa công khai các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội

dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, phù lời với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Hồi 01 giờ 40 phút ngày 12/7/2018, tại khu du lịch thị trấn TL, huyện HH, tỉnh Nam Định, Trần Văn T đã nhận cá độ trận đấu bóng đá giữa đội tuyển Anh và đội tuyển Croatia trong khuôn khổ vòng chung kết cúp bóng đá thế giới 2018 của Nguyễn Văn Q và Đinh Xuân P với số tiền 5.000.000 đồng thì bị Công an huyện Hải Hậu phát hiện bắt quả tang. Hành vi đánh bạc với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là trên năm triệu đồng và dưới năm mươi triệu đồng. Bản thân các bị cáo này có đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã phạm vào tội: “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. [3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, với cách thức cá độ sát phạt nhau bằng tiền, không những ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế của bản thân và gia đình các bị cáo, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, từ việc được, thua khi cá độ cũng là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo T, Q trong vụ án đều là những lao động thuần túy nhưng lại không chăm chỉ làm việc, mong muốn giàu có trong chốc lát bằng việc tham gia sát phạt nhau nhằm kiếm lời, do đó, cần xử lý nghiêm, nhằm trừng trị, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. [4] Xét vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Trong vụ án này các bị cáo không có sự chuẩn bị, phân công vai trò, trách nhiệm cụ thể từ trước nên xác định là trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo Trần Văn T trực tiếp lên mạng internet để tìm hiểu về hình thức, tỷ lệ cá độ, tải tỷ lệ kèo các cược mục đích cá cược ăn tiền khi người khác có nhu cầu, tích cực tham gia cá độ nên giữ vai trò số 1 trong vụ án. Bị cáo Q đề nghị cùng tham gia cá độ với bị cáo T nên giữ vị trí thứ 2 trong vụ án. [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo trong vụ án này không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. [6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo:

Các bị cáo trong vụ án đều phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; T và Q là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, các con còn nhỏ có xác nhận của chính quyền địa phương; bị cáo Trần Văn T có bố là ông Trần Kim T1 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam tặng thưởng “Huy chương chiến sỹ giải phóng”. Như vậy, các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Văn Q được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình. [7] Qua xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trần Văn T tuy có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo giữ vai trò số 1 vụ án, có nhân thân xấu vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm và cách ly bị cáo T ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo Nguyễn Văn Q có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử được cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án cho tại ngoại đến nay Q chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước và quy định của địa phương, không có biểu hiện vi phạm pháp luật mới, đã thực sự hối cải, có khả năng tự cải tạo và không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Vì vậy không cần thiết cách ly bị cáo Q ra khỏi xã hội mà cho Nguyễn Văn Q được cải tạo không giam giữ, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung; đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và phù hợp với quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo Q không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp. [8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo trong vụ án đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, con còn nhỏ; xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. [9] Đối với Đinh Xuân P, sau khi bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan điều tra đã quyết định truy nã, tách vụ án và tạm đình chỉ điều tra. Khi nào bắt được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật. [10] Về xử lý vật chứng của vụ án:

- Chiếc điện thoại di động Samsung galaxy J7 Pro, chiếc ví da, chứng minh thư nhân dân, thẻ ATM và số tiền 1.845.000 đồng là tài sản hợp pháp của Trần Văn T không liên quan đến việc phạm tội nên cơ quan điều tra trả lại bị cáo, hiện do chị Phạm Thị Phương L là vợ bị cáo T quản lý là phù hợp quy định. - Số tiền 3.000.000 đồng do Q cá độ bóng đá tự nguyện giao nộp, 02 chiếc điện thoại di động Philips và Iphone 6 do T và Q sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước. - Quyển sổ kẻ ô ly T dùng để ghi kèo cá độ bóng đá không có giá trị sử dụng, 02 thẻ sim số 0914379668 và 0947850168 dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy. [11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Văn Q. 1. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Văn Q phạm tội “Đánh bạc”. - Xử phạt bị cáo Trần Văn T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2018. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 12/7/2018 đến ngày 21/7/2018 là 09(chín) ngày x 3(ba) = 27(hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải thi hành 08 (tám) tháng 03 (ba) ngày; thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Nguyễn Văn Q cho Ủy ban nhân dân thị trấn TL, huyện HH, tỉnh Nam Định để giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. 2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 3.000.000 đồng, 02 chiếc điện thoại di động Philips và Iphone 6.

- Tịch thu, tiêu hủy: Quyển sổ kẻ ô ly T dùng để ghi kèo cá độ bóng đá và 02 thẻ sim số 0914379668 và 0947850168. (Các vật chứng nêu trên được mô tả như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu ngày 24/10/2018 và biên lai thu tiền số AA/2012/07578 ngày 24/10/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu). 3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Buộc các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Văn Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 4.Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ