- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa Trần thị Mỹ N - Ngô Anh D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Mỹ N về việc ly hôn với ông Ngô Anh D như sau:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2018/HNGĐ-ST Ngày 09-7-2018 V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Văn Nô;
Bà Huỳnh Thị Lượng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên tòa: Bà Bồ Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 65/2018/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2018, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ N, sinh năm 1986; hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã A , huyện B, tỉnh Phú Yên; tạm trú: Tổ 1, khu phố K, phường P, thị xã U, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Ngô Anh D, sinh năm 1985; hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã A , huyện B, tỉnh Phú Yên; tạm trú: Tổ 1, khu phố K, phường P, thị xã U, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn h i i n ngày 29 tháng 1 năm 2 18 và trong quá tr nh gi i quy t v án và tại phiên tòa, nguyên đơn à Trần Thị Mỹ N trình bày: Bà Trần Thị Mỹ N và ông Ngô Anh D tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A , huyện B, tỉnh Phú Yên ngày 13/12/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do ông D hay cờ bạc, cá độ đá bóng nên thường xuyên lâm vào cảnh nợ nần làm kinh tế gia đình luôn lâm vào cảnh khó khăn, dù đã nhiều lần được gia đình hai bên giúp đỡ và khuyên can, bà N đã nhiều lần tha thứ cho nhưng ông D vẫn không thay đổi tính tình, sống không quan tâm đến gia đình vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm. Hiện nay, bà N và ông D đã sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Trần Thị Mỹ N yêu cầu được ly hôn với ông Ngô Anh D.
Về con chung: Có 01 con chung tên Ngô Ngọc Thảo C, sinh ngày 01/9/2012. Hiện nay cháu C đang sống cùng bà N, bà Trần Thị Mỹ N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Ngô Anh D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Bị đơn ông Ngô Anh D đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án, cũng không nộp văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Theo biên bản xác minh ngày 22/3/2018 tại Ủy ban nhân dân phường P, thị xã U, tỉnh Bình Dương xác định địa phương không nhận được đơn yêu cầu giải quyết mâu thuẫn của vợ chồng bà Trần Thị Mỹ N và ông Ngô Anh D .
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tại phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bị đơn đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên việc Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục vắng mặt những người tham gia tố tụng là đúng qui định.
Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ có đủ cơ sở xác định cuộc sống vợ chồng bà Trần Thị Mỹ N và ông Ngô Anh D không có hạnh phúc, do bất đồng quan điểm, sống không quan tâm gia đình, ông D thường hay cớ bạc làm kinh tế gia đình lâm vào cảnh khó khăn, vợ chồng đã sống ly thân. Như vậy, mâu thuẫn của bà N và ông D đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N. Về con chung: Hiện tại cháu Ngô Ngọc Thảo C, sinh ngày 01/9/2012 đang sống cùng bà N, cần giao cháu C cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung nên cần ghi nhận; tài sản chung, nợ chung bà N không yêu cầu nên không phải xem xét. Bà N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả công bố các tài liệu chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình mà bị đơn cư trú tại thị xã Tân Uyên và nguyên đơn đề nghị TAND thị xã Tân Uyên giải quyết. Căn cứ vào Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ N có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Ngô Anh D được triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai mà vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
[1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mỹ N và ông Ngô Anh D là những người đủ điều kiện kết hôn; chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu để tiến tới hôn nhân; có đăng ký kết hôn tại xã Ủy ban nhân dân xã A , huyện B, tỉnh Phú Yên ngày 13/12/2011 theo Giấy chứng kết hôn số 106, Quyển số 01/2012, theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đây là hôn nhân hợp pháp.
Về mâu thuẫn vợ chồng: Bà Trần Thị Mỹ N xác định cuộc sống chung của bà N và ông D không hạnh phúc, nguyên nhân mâu thuẫn do ông D sống không quan tâm đến gia đình, hay đánh bạc làm kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Bà N, ông D đã đưa ra nhiều giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không đạt kết quả, nay bà N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông D.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên đã tiến hành các thủ tục triệu tập hợp lệ nhưng ông D không đến Tòa án cho thấy ông D không muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Bà N xác định hoàn toàn không còn tình cảm với ông D và không thể tiếp tục chung sống với ông D, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N và ông D là có thật. Xét thấy, quan hệ hôn nhân tồn tại bền vững dựa trên tình cảm của vợ chồng, sự tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau giữa vợ chồng, nhưng quan hệ hôn nhân của bà N và ông D đã không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà N và ông D trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà N có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông D là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Bà Trần Thị Mỹ N yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung Ngô Ngọc Thảo C, sinh ngày 01/9/2012. Xét thấy, hiên tại cháu C đang sống cùng bà N, cháu được chăm sóc tốt, tâm sinh lý cháu phát triển ổn định, bà N có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu C. Do vậy, yêu cầu được nuôi con của bà N là có căn cứ chấp nhận quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Theo đơn khởi kiện bà N không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung, quá trình giải quyết vụ án bà N đã được nghe đại diện Tòa án đã giải thích về quyền được hưởng cấp dưỡng từ cha mẹ của con chưa thành niên để đảm bảo quyền lợi của con cái nhưng vẫn không yêu cầu ông D cấp dưỡng, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật.
Về án phí: Nguyên đơn phải nộp theo quy định của pháp luật.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 146, 147, 228, 235, 271, 273, 278 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Mỹ N về việc ly hôn với ông Ngô Anh D như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mỹ N được ly hôn ông Ngô Anh D.
- Về con chung: Bà Trần Thị Mỹ N được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Ngô Ngọc Thảo C, sinh ngày 01/9/2012.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà N về việc không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.
Bà Trần Thị Mỹ N và ông Ngô Anh D đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí: Bà Trần Thị Mỹ N phải nộp 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0013705 ngày 08/02/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
3. Về quyền kháng cáo của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp n án, quy t định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người ph i thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc ị cưỡng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 3 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Tân Uyên; - THADS thị xã Tân Uyên; - UBND xã A , huyện B, tỉnh Phú Yên; - Các đương sự; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tấn Tâm |