- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn M-T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thu M được ly hôn anh Nguyễn Xuân
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2018/HNGĐ-ST Ngày 07/12/2018 “V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Phách
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lương Ngọc Biên
2. Ông Lương Văn Định
Những người tiến hành tố tụng khác tại phiên tòa:
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Linh Chi, cán bộ Toà án nhân dân huyện Yên
Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên toà: Ông
Lương Văn Tuấn, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 07/12/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc
Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 182/2018/ST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60q/2018/QĐST-DS ngày 09/11/2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thu M, sinh năm 1991 (có mặt)
Trú tại: thôn H, xã P, huyện Â, tỉnh H.
Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Trú tại: Thôn T xã H, huyện Y, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/7/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn
Phạm Thị Thu M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị xây dựng gia đình với anh Nguyễn Xuân T vào
tháng 7/2016, có được tự do tìm hiểu, có tổ chức cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Y, tỉnh B. Sau khi tổ chức cưới xong, chị và anh T ở riêng luôn, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 8/2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do quan điểm sống không hợp nhau, chị và anh T thường xuyên cãi cọ, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, thờ ơ, không ai quan tâm đến ai, chị và anh T đã ly thân từ tháng 2/2018 đến nay, nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, chị xin được ly hôn.
Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Nguyễn Xuân K, sinh tháng
8/2017, hiện nay cháu K đang ở với chị, khi ly hôn chị xin nhận nuôi cháu K, tiền cấp dưỡng nuôi con không đặt ra, thu nhập của chị hiện nay khoảng 7.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Không có
Về công nợ: Chị và anh T không nợ và không cho ai vay
Anh Nguyễn Xuân T đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn
vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về quan hệ vợ chồng: Chị Phạm Thị Thu M và anh Nguyễn Xuân T khi xây
dựng gia đình với nhau, cả hai đã đủ tuổi, năng lực và có giấy đăng ký kết hôn của UBND xã H, huyện Y, tỉnh B cấp là hôn nhân hợp pháp. Hiện tại anh T vẫn có hộ khẩu tại Thôn T xã H, huyện Y, tỉnh B, nay chị M xin ly hôn anh T là vụ kiện “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 8/2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm sống không hợp nhau, chị và anh T thường xuyên cãi cọ, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, thờ ơ, không ai quan tâm đến ai. Chị và anh T đã ly thân từ tháng 2/2018 đến nay, nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, chị xin được ly hôn.
Tòa án cũng đã tiến hành xác minh tại địa phương xác định: Chị Phạm Thị Thu
M và anh Nguyễn Xuân T đăng ký kết hôn năm 2016 tại UBND xã H, huyện Y tỉnh B. Về mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M và anh T địa phương không nắm được, chị M sinh con được đầy năm thì về quê ở H. Hiện tại anh T làm tự do, anh T làm gì, ở đâu không rõ, thi thoảng anh T có về quê sau lại đi làm ăn, nay chị M xin ly hôn địa phương đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, khả năng vợ chồng đoàn tụ là rất khó.
Xét thấy anh T đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm
cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, chị M đã về nhà mẹ đẻ. Nên cần giải quyết cho chị M được ly hôn là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị M và anh T có 01 con chung là Nguyễn Xuân K, sinh tháng
8/2017, hiện nay đang ở với chị M, khi ly hôn chị M xin nhận nuôi cháu K. Cháu K dưới 3 tuổi, hiện tại chị M có công ăn việc làm và thu nhập ổn định, nguyện vọng của chị M muốn được nuôi cháu K, nên giao cho chị M nuôi cháu K là hợp lý, chị M không yêu cầu tiền cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ: Không có, nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh T vì anh T đã được
triệu tập hợ lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp
luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn có mặt kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định của pháp luật, riêng bị đơn không chấp hành. Ngoài ra còn có ý kiến về việc giải quyết vụ án cụ thể: Xử cho chị M được ly hôn anh T, giao cháu Nguyễn Xuân K, sinh tháng 8/2017 cho chị M nuôi dưỡng, tiền cấp dưỡng nuôi con không đặt ra. Chị M phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 56; 58 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147; điểm b
khoản 2 Điều 227 BLTTDS. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thu M được ly hôn anh Nguyễn Xuân
T.
2.Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Thu M nuôi cháu Nguyễn Xuân K,
sinh tháng 8/2017, tiền cấp dưỡng nuôi con không đặt ra. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3.Về án phí: Chị M phải chịu 300.000 đồng án phí DSST đã nộp theo biên lai
số: AA/2016/0002570 ngày 20/7/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được
tống đạt án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Yên Dũng; - Chi Cục THADS huyện Yên Dũng; - Lưu VP, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Xuân Phách |