- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63 /2017/HSST Ngày 12 tháng 12 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Hải Nam.
2. Bà Trịnh Thị Minh Tỵ.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Lộc, Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 59/2017/HSST ngày 26 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn V(Tên gọi khác: Không); sinh ngày: 18/6/1976; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm Đ, xã Th, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 9/12; con ông Nguyễn Văn Nh và bà Dương Thị Th; có vợ là Dương Thị H và 01 con.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Sông Công từ ngày 06/9/2017 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
1. Ông Trần Văn Ph, sinh năm 1962; Trú tại: TDP Pi, phường L, TP Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt có lý do.
2. Ông Trịnh Ngọc Ph, sinh năm 1964; Trú tại: TDP 2 N, phường L, TP Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NHẬN THẤY
Bị cáo Nguyễn Văn V bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Hồi 10 giờ 20 phút ngày 6/9/2017, tại đoạn đường bê tông liên xóm thuộc tổ dân phố 3 N, phường L, thành phố S, tổ công tác thuộc đội Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công đang tiến hành tuần tra, kiểm soát thì phát hiện Nguyễn Văn V có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra hành chính thì V đã tự giác lấy từ túi áo ngực bên phải đang mặc 01 gói nhỏ giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp và khai nhận là Hêrôin mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ vật chứng.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đối với số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn V, tại bản kết luận giám định số 995/KL - PC54 ngày 13/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận Chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn V là chất Hêrôin, có trọng lượng (khối lượng): 0,174 gam.
Quá trình điều tra đã làm rõ: Do bản thân nghiện chất ma túy nên khoảng 9 giờ ngày 6/9/2017, Nguyễn Văn V một mình đi xe buýt lên khu vực đường tròn Gang Thép thuộc phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ nhưng biết người này bán ma túy, V nói “anh bán cho em ít hàng” (ý hỏi mua hê rô in) và đưa cho người đàn ông 100.000đ. Người này đồng ý, cầm tiền của Việt, rồi đưa cho V 01 gói nhỏ màu vàng, Vcất vào túi áo ngực bên phải đang mặc, bắt xe buýt về nhà. Khi đến phường Lương Sơn V xuống xe đi bộ vào đường liên xóm thuộc tổ dân phố 3 Ninh Hương để tìm nơi sử dụng ma túy thì gặp tổ công tác Công an thành phố Sông Công phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 57/KSĐT ngày 25/10/2017 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Vvề tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành BLHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14; Khoản 3 Điều 7; Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Nguyễn Văn V mức án từ 18 đến 24 tháng tù.
Đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY
Tại phiên tòa, bị cáo V đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 10 giờ 20 phút ngày 6/9/2017 tại tổ dân phố 3 N, phường L, thành phố S, Nguyễn Văn V tàng trữ trái phép 0,174 gam Hêrôin nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Vlà nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ. Nội dung điều luật quy định: Điều 194 BLHS: “1. Người nào……tàng trữ trái phép chất ma tuý…. thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
Do có thay đổi trong chính sách pháp luật hình sự, căn cứ nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành BLHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017 ngày 20/6/2017, Khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015 về việc áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội đối với hành vi phạm tội được thực hiện trước khi điều luật có hiệu lực thi hành, thì hành vi của bị can được áp dụng khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 (có mức hình phạt thấp hơn so với khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999), nội dung điều luật như sau:
Điều 249 BLHS:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy…thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
… c) Hêrôin…. có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”
Xét các nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy:
Về nhân thân: Bị cáo được gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 09/12 sau đó ở nhà làm ruộng, là đối tượng nghiện ma túy.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo V được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Căn cứ tính chất của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội của địa phương, cản trở công cuộc đấu tranh, nhằm loại trừ ma túy ra khỏi đời sống xã hội của Đảng và Nhà nước, bị cáo là người có nhận thức xã hội, có sức khỏe nhưng không tu chí làm ăn mà sa vào tệ nạn xã hội. Thấy cần phải có mức án nghiêm khắc, cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
Về vật chứng: Số chất ma túy bị thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy không cần thiết áp dụng đối với bị cáo.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Vphải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc 0,174 gam Hêrôin Vkhai mua của một người không quen biết, nên cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành BLHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14; Khoản 3 Điều 7; Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn V 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06 tháng 09 năm 2017.
Áp dụng: Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo V 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong chứa 0,144g heerroin còn lại sau giám định.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/11/2017 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công)
Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Vphải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm nộp vào công quỹ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TA tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh TN; - VKSND SC; Công an SC; - THA Hình sự, dân sự; - Bị cáo; - UBND xã Thượng Đình; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hoàng Văn Kiên |