- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2017/HSST Ngày: 26-9-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Quân;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Chu Quang Liêm;
2. Bà Phạm Thị Hợi.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Vƣơng Đình Thi – Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 26/9/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2017/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1986 tại tỉnh Hải Dƣơng; trú tại: Thôn M, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dƣơng; trình độ học vấn: Không biết chữ; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn Th (đã chết) và bà Nguyễn Thị V; có vợ (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2017 đến nay (hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương). Có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau: Hồi 17 giờ 30 phút ngày 15/6/2017, tại quán bia của anh Đoàn Văn Ph thuộc thôn Gi, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dƣơng lực lƣợng Cảnh sát điều tra, Công an huyện Tứ Kỳ bắt quả tang, thu giữ tại túi quần sau bên phải bị cáo Nguyễn Văn T đang mặc 01 ống kim loại dài 04cm, 01 túi nilon, kích thƣớc (2,5 x 3,5)cm bên trong có các hạt tinh thể màu trắng. Bị cáo khai tinh thể màu trắng trong túi nilon là ma túy tổng hợp (ma túy đá) bị cáo cất giấu để sử dụng, còn ống kim loại là dụng cụ bị cáo dùng để sử dụng chất ma túy.
Quá trình điều tra xác định: Bị cáo nghiện chất ma túy, khoảng hơn 16 giờ ngày 15/6/2017 bị cáo gặp một ngƣời đàn ông (Bị cáo không biết tên, địa chỉ của người này) tại xã T, huyện K, tỉnh Hải Dƣơng, bị cáo đã dùng 02 chiếc loa, hiệu Canifonia (loa âm thanh) của bị cáo đổi cho ngƣời này lấy số ma túy trên.
Tại Kết luận giám định số 3076/C54(TT2) ngày 01/8/2017, Viện khoa học hình sự, Tổng cục Cảnh sát kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng (Thu giữ của bị cáo) gửi giám định là ma túy, có trọng lƣợng 1,194gam, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 55/VKS-HS ngày 31/8/2017, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyên Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của BLHS; Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc hội khóa XIV; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015. Xử phạt Nguyễn Văn T từ 13 đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 BLHS; các điểm a, đ khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), tịch thu và tiêu huỷ: 0,727g (Không phẩy, bẩy trăm hai mƣơi bẩy gam) Methamphetamine và vỏ bao gói do cơ quan giám định hoàn lại, 01 ống kim loại dài 4cm; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố và lời luận tội của VKSND huyện Tứ Kỳ là đúng và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo,
XÉT THẤY:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra công khai tại phiên tòa. HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Chiều ngày 15/6/2017, bị cáo Nguyễn Văn T có hành vi cất giấu trái phép 1,194g (Một phẩy, một trăm chín mƣơi bốn gam) chất ma túy Methamphetamine trong túi quần bị cáo mặc, mục đích để sử dụng đã bị lực lƣợng Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ bắt quả tang, thu giữ tại quán bia của anh Đoàn Văn Ph thuộc thôn Gi, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dƣơng vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 15/6/2017.
Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ đƣợc hành vi cất giấu chất ma tuý của bị cáo là vi phạm pháp luật, song với mục đích để sử dụng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, chất ma túy bị cáo cất giấu trái phép là Methamphetamine, có khối lƣợng 1,194g (Một phẩy, một trăm chín mƣơi bốn gam) nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS. Nhƣ vậy, Quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ.
Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, chế độ quản lý đặc biệt đối với chất ma tuý của Nhà nƣớc, bản thân bị cáo nghiện chất ma túy nên cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian thì mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành ngƣời tốt và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015 có khung hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của BLHS; theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa XIV về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 (gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015)… thì đây là quy định có lợi nên HĐXX sẽ áp dụng tinh thần của BLHS năm 2015 khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị bắt giữ, tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp, không có tài sản gì có giá trị nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Khối lƣợng chất ma túy Methamphetamine bị cáo tàng trữ trái phép, sau khi giám định còn lại 0,727 gam là vật cấm lƣu hành, 01 ống kim loại bị cáo chuẩn bị để sử dụng trái phép chất ma túy, hiện không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, đối tƣợng bán (đổi loa) ma túy cho bị cáo không xác định đƣợc là ai, ở đâu nên không có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của BLHS; Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc hội khóa XIV; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 13 (Mƣời ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 15/6/2017.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 của BLHS; các điểm a, đ khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu huỷ: 0,727g (Không phẩy, bẩy trăm hai mƣơi bẩy gam) Methamphetamine và vỏ bao gói do cơ quan giám định hoàn lại, 01 ống kim loại (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 21/9/2017).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về…án phí và lệ phí Tòa án. Xử buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 26/9/2017./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ; - Sở Tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án; - Lƣu: V.Phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Quốc Quân |