vanban.org

Bản án 629/2024/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 23/12/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của à Phạm Th H và ông Đặng Phương N.

Sửa Bản án số 299/2024/DS-ST ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố D như sau: Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của ông Lê Văn B đối với à Phạm Th H và ông Đặng Phuong N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Buộc à H và ông N có nghĩa v trả nợ cho ông B 70.000.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "ông B kiện bà H, ông N tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của à Phạm Th H và ông Đặng Phương N.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố t ng dân s; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 629/2024/DS-PT
Ngày 23-12-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thành Trung

Các Thẩm phán:

Ông Lê Sỹ Trứ

Ông Nguyễn Văn Tài

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Song Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đ i di n Vi n i m t nhân dân t nh B nh Dư ng tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Thoại - i m sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2024, tại tr s Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử phúc thẩm công khai v án dân s th lý số 496/2024/TLPT-DS ngày 29/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân s sơ thẩm số 299/2024/DS-ST ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương kháng cáo.

Theo Quyết đ nh đưa v án ra xét xử số 518/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 11 năm 2024, giữa các đương s :

- Nguyên đơn: ông Lê Văn B, sinh năm 1970; thường trú: số 194 Mã Lò, phường BTD, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; đ a chỉ liên hệ: số 146/1 đường Phước Thắng, Phường 12, thành phố V, tỉnh Bà R a – V; có mặt.

- Bị đơn: à Phạm Th H, sinh năm 1988 và ông Đặng Phương N, sinh năm 1984; cùng đ a chỉ: số A04 – lầu 10, chung cư Charm Plaza, số 115 đường ĐT743C, khu phố Thống Nhất, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; ủy quyền cho ông Nguyễn Việt C, sinh năm 1974; đ a chỉ: số 170 Nguyễn Duy Trinh, phường BTT, thành phố TD, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 23/8/2024); có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: à Phạm Th H1, sinh năm 1974; đ a chỉ: số 146/1 đường Phước Thắng, Phường 12, thành phố V, tỉnh Bà R a – V; có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người háng cáo: đơn ông Đặng Phương N và bà Phạm Th H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 26/3/2024, bản tự khai ngày 26/8/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Văn B trình bày:

Ông B và à Phạm Th H1 trước đây là vợ chồng nhưng sau đó ông B và bà H1 đã ly hôn theo Quyết đ nh công nhận thuận tình ly hôn và s thoả thuận của các đương s số 997/2018/QĐST-HNGĐ ngày 23/7/2018 của TAND quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H1 là em ruột của à Phạm Th Liên. Bà Liên có chồng là ông Đặng Đức Quang và có con là ông Đặng Phương N, ông N có vợ là à Phạm Th Hoà. Do là những người trong gia đình nên trước đây mối quan hệ giữa ông B, bà H1, vợ chồng à Liên – ông Quang và vợ chồng N – Hoà rất thân thiết nên thường xuyên mượn tiền qua lại với nhau, c th :

- Ngày 20/4/2018, ông B chuy n khoản cho ông N vay số tiền 70.000.000 đồng vào số tài khoản 0081001141951 do ông Đặng Phương N là chủ tài khoản Vietcom ank. hi cho vay, hai ên không có thỏa thuận lãi suất và thời hạn vay, cũng như không có viết giấy vay tiền, số tiền này ông B nói chỉ cho mượn vài tháng khi vào cần sẽ lấy lại nhưng đến hiện tại vợ chồng N – Hoà vẫn chưa trả lại cho ông B số tiền này.

- Ngày 31/8/2018, ông B tiếp t c cho vợ chồng N - Hoà vay số tiền 1.800.000.000 đồng đ cho vợ chồng N – Hoà làm thủ t c hợp tác lao động đi Úc, việc cho vay diễn ra tại nhà của cha mẹ vợ chồng N – Hoà (tức là nhà của ông Đặng Đức Quang và à Phạm Th Liên, tại số 296A đường Lưu Hữu Phước, Phường 15, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh). Bà Hoà là người viết “Giấy vay nợ ngày 31/8/2018”, vợ chồng N – Hoà cùng ký tên, ghi họ tên, đi m chỉ, ngoài ra còn có s có mặt của à Liên làm chứng cùng ký tên, ghi họ tên vào giấy vay nợ. Sau khi à Hoà viết xong “Giấy vay nợ ngày 31/8/2018” thì ông B giao tiền mặt cho vợ chồng N – Hoà ki m đếm, việc giao tiền này có s chứng kiến của vợ chồng ông Quang, à Liên và vợ cũ của ông B là bà H1. Khi cho vay, ông B chỉ nói miệng là cho vay trong thời hạn 06 tháng, khi nào cần sẽ lấy lại nên hai ên không thỏa thuận lãi suất và thời hạn vay. Giấy vay nợ ngày 31/8/2018 chỉ có 01 ản chính. Do cũng là người trong gia đình và thân thiết với nhau trong thời gian lâu dài nên ông B tin tư ng à Liên (mẹ ruột của vợ chồng N - Hoà) và hơn nữa vợ chồng à Liên, ông Quang đứng ra ảo lãnh cho vợ chồng N – Hoà vay tiền nên ông B an tâm giao ản chính “Giấy vay nợ ngày 31/8/2018” cho à Liên là trung gian cất giữ mà ông B không có giữ ản chính nào. Lúc này, à Hoà mới yêu cầu ông B đưa điện thoại của ông B đ cho à Hoà ch p lại ản chính “Giấy vay nợ ngày 31/8/2018” này. Do đó, ông B chỉ có ản photo “Giấy vay nợ ngày 31/8/2018” gửi cho Toà án. Ông B trình ày, nguồn gốc số tiền 1,8 tỷ đồng này là tiền của ông B do ông B rút từ số tiết kiệm gửi tại Ngân hàng Arigbank – Chi nhánh huyện H1m Tân, tỉnh Bình Thuận với số tiền 1,4 tỷ đồng vào ngày 15/8/2018 và số tiền mặt 400.000.000 đồng hiện có của ông B nên ông B đã giao cho vợ chồng N – Hoà mượn ằng tiền mặt và hai ên không có viết giấy giao nhận tiền. hoảng 02 tháng sau k từ ngày viết “Giấy vay nợ ngày 31/8/2018” thì lúc này vợ chồng ông Quang – à Liên mới nói với ông B là xin ông B cho thêm thời gian trả nợ đ vợ chồng N – Hoà làm thủ t c đi hợp tác lao động Úc và do ông Quang có nói là việc trả nợ chủ yếu do vợ chồng ông Quang – à Hoà đứng ra trả nên ông B mới đồng ý và viết vào “Giấy vay nợ ngày 31/8/2018” với nội dung “số tiền này khi nào 2 cháu sang đến Úc làm trả sau” theo như yêu cầu của vợ chồng ông Quang – bà Liên. Ngày 10/01/2019, ông N có trả cho ông B số tiền 160.000.000 đồng và ông B đã viết giấy iên nhận cho là có nhận số tiền 160.000.000 đồng. Hiện nay, vợ chồng N – Hoà vẫn không trả tiếp số tiền này.

Do đó, ông B có đơn kh i kiện yêu cầu vợ chồng N – Hoà có trách nhiệm trả lại cho ông B số tiền vay còn lại, tổng cộng là 1.710.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Đối với yêu cầu phản tố của đơn, thì ông B có ý kiến như sau: Ông B không thừa nhận có vay số tiền 200.000.000 đồng của vợ chồng N – Hoà theo “Biên nhận ngày 10/01/2019” do vợ chồng N – Hoà cung cấp. Ông B thừa nhận có nhận số tiền 160.000.000 đồng vào ngày 10/01/2019 do ông N đưa là đ trả nợ cho ông B đối với khoản vay 1,8 tỷ đồng mà vợ chồng N – Hoà đã vay của ông B. Còn số tiền 40.000.000 đồng mà à Hoà ghi thêm trong giấy iên nhận ngày 10/01/2019 thì ông B không có nhận số tiền này, do à Hoà giữ ản chính “Biên nhận ngày 10/01/2019” này nên à Hoà đã ghi thêm. Trước yêu cầu phản tố của vợ chồng N – Hoà thì ông B không đồng ý.

Tại phiên toà sơ thẩm, ông B giữ nguyên toàn ộ yêu cầu kh i kiện của mình và xác đ nh không có vay tiền của vợ chồng N – Hoà, số tiền 160.000.000 đồng mà ông B nhận của ông N là tại nhà vợ chồng à Liên – ông Quang, không phải tại nhà của à Hưng như à Hoà trình ày và số tiền này là do vợ chồng N – Hoà trả nợ cho ông B cho khoản vay 1,8 tỷ đồng mà vợ chồng N – Hoà đã vay tiền của ông B vào ngày 31/8/2018.

* Tại đơn phản tố ngày 05/6/2024, các bản trình bày ý kiến cùng ngày 01/7/2024, cùng ngày 13/8/2024 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phạm Thị H, ông Đặng Phƣơng N và ngƣời đại diện theo uỷ quyền của bà Hoà là ông Nguyễn Việt C thống nhất trình bày:

Ông Đặng Phương N và à Phạm Th Hoà là con ruột và con dâu của à Phạm Th Liên và ông Đặng Đức Quang. Còn à Phạm Th H1 là em gái của à Liên. Bà H1 có chồng là ông Lê Văn B.

Trước yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn thì à Hoà, ông N có ý kiến như sau:

- Đối với số tiền vay 70.000.000 đồng mà ông B chuy n khoản cho ông N vào ngày 20/4/2018 qua số tài khoản 0081001141951 do ông Đặng Phương N là chủ tài khoản Vietcom ank thì à Hoà và ông N thống nhất xác đ nh có vay số tiền 70.000.000 đồng này của ông B và đồng ý trả tiền cho ông B.

- Đối với số tiền vay 1,8 tỷ đồng theo “Giấy vay nợ ngày 31/8/2018” thì ông N – à Hoà không đồng ý có vay số tiền 1,8 tỷ đồng của ông B và cũng không có nhận số tiền 1,8 tỷ đồng ằng tiền mặt từ ông B giao. Ông N, bà Hoà thừa nhận à Hoà chính là người viết “Giấy vay nợ ngày 31/8/2018”, vợ chồng ông, à có ký tên, ghi họ tên, lăn tay vào “Giấy vay nợ ngày 31/8/2018”, và “Giấy vay nợ ngày 31/8/2018” được lập thành 02 ản chính, vợ chồng ông, à giữ 01 ản chính, ông B giữ 01 ản chính. Tuy nhiên, ông N – à Hoà cho rằng th c tế không có việc vay mượn số tiền 1,8 tỷ đồng này. S dĩ, vợ chồng ông N, à Hoà viết “Giấy vay nợ ngày 31/8/2018” là viết theo yêu cầu của ông B, i vì, ông B có người quen ên Úc là à Lê Th Thiên Trúc (quốc t ch Úc) nên ông B mới nói với vợ chồng ông, à là muốn giúp vợ chồng ông, à xuất cảnh sang Úc đ đ nh cư, sinh sống gần với ông B (vì ông B có người con

ệnh Plus an đỏ nên muốn qua Úc đ chữa ệnh cho con) với toàn ộ chi phí đ đi Úc là 1,8 tỷ đồng, do vợ chồng ông, à không có tiền làm thủ t c xuất cảnh đi Úc nên ông B mới nói với vợ chồng ông, à là ông B, bà H1 đứng ra lo liệu toàn ộ thủ t c đi Úc cho vợ chồng ông, à nhưng yêu cầu vợ chồng ông, à phải ghi giấy nợ đ đảm ảo cam kết cho việc làm thủ t c xuất cảnh đi Úc và khi nào sang đến Úc thì vợ chồng ông, à làm trả lại cho ông B, bà H1 sau. Do tin tư ng ông B, bà H1 là dì, dượng trong gia đình nên vợ chồng ông, à mới viết giấy nợ. Ông B có lên kế hoạch àn ạc với vợ chồng ông, à là à Hoà ly hôn giả với ông N tại Việt N, sau đó à Hoà mới kết hôn giả với ông Sơn (chồng của à Trúc) đang sinh sống tại Úc và ông B còn dặn dò vợ chồng ông, à là do đây là việc kết hôn giả nên yêu cầu vợ chồng ông, à phải giữ kín mọi thông tin và toàn ộ thủ t c giấy tờ liên quan đến việc xuất cảnh đi Úc thì ông B đều giữ hết, vợ chồng ông, à không có giữ giấy tờ nào.. Tầm khoảng 02 – 03 tháng sau thì vợ chồng ông, à thấy ông B không th c hiện được thủ t c xuất cảnh đi Úc cho vợ chồng ông, à như những gì ông B àn ạc từ trước nên tại nhà của cha mẹ ông, à (tức là nhà của à Liên – ông Quang) thì vợ chồng ông, à cùng với ông B đã thoả thuận ằng miệng huỷ ỏ “Giấy vay nợ ngày 31/8/2018” và đồng thời xé ỏ 02 “Giấy vay nợ ngày 31/8/2018” này. Mọi thoả thuận giữa ông B với vợ chồng ông, à thì có à Phạm Th Liên (mẹ của vợ chồng ông, à) đều iết và chứng kiến, à Liên còn ký vào m c người làm chứng trong “Giấy vay nợ ngày 31/8/2018”. Vì vậy, việc ông B kh i kiện yêu cầu vợ chồng ông, à trả số tiền vay 1,8 tỷ đồng thì ông N – à Hoà không đồng ý.

Ngày 05/6/2024, ông N – à Hoà có đơn phản tố đối với ông Lê Văn B, với yêu cầu ông B, bà H1 trả nợ tiền vay 200.000.000 đồng theo Biên nhận ngày 10/01/2019. Theo à Hoà chữ viết trong “Biên nhận ngày 10/01/2019” với nội dung nhận số tiền 160.000.000 đồng là chữ viết do ông B viết, còn nội dung nhận số tiền 40.000.000 đồng là do à Hoà viết và khi viết thì à Hoà viết trước mặt ông B, được ông B thống nhất, tuy nhiên, việc giao nhận số tiền 40.000.000 đồng là được đưa sau ngày 10/01/2019 tại nhà dì Hưng, khi giao tiền à Hoà giao tr c tiếp cho à H1 và có thông áo lại cho ông B iết, việc giao tiền chỉ có ông B, bà H1 và à Hoà, không có ai làm chứng. Do ông B, bà H1 chưa trả cho vợ chồng N – Hoà số tiền 200.000.000 đồng này nên vợ chồng N – Hoà yêu cầu ông B, bà H1 có trách nhiệm trả nợ cho vợ chồng ông, à số tiền 130.000.000 đồng, sau khi đã cấn trừ số tiền 70.000.000 đồng mà vợ chồng N – Hoà vay của ông B.

Tại phiên toà sơ thẩm, ông N, bà Hoà, ông C thống nhất trình ày: Ông N, à Hoà vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố. Số tiền 200.000.000 đồng mà vợ chồng N – Hoà giao cho ông B ngày 10/01/2019 là tiền cho ông B, bà H1 vay, chứ không phải là tiền trả nợ cho ông B. hông có việc vay mượn số tiền 1,8 tỷ đồng của ông B vì th c tế ông B không có giao tiền nên không có iên ản giao nhận tiền. Bà Liên cũng không có giữ ản chính “Giấy vay nợ ngày 31/8/2018”.

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị H1 trình bày:

Bà Phạm Th H1 và ông Lê Văn B đã ly hôn vào ngày 23/7/2018. Số tiền 1.800.000.000 đồng mà ông B cho vợ chồng N - Hoà vay theo Giấy vay nợ ngày 31/8/2018 và số tiền 70.000.000 đồng theo Lệnh chuy n tiền ngày 20/4/2018 là tiền riêng của ông B. Đối với số tiền 200.000.000 đồng mà vợ chồng N- H trình bày là cho bà H1 và ông B vay vào ngày 10/01/2019 thì bà H1 không thừa nhận và xác đ nh không có liên quan gì, i vì thời đi m này à H1 đã ly hôn với ông B, vì vậy à H1 không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông N – bà Hoà.

Tại Bản án dân s sơ thẩm số 299/2024/DS-ST ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu hởi iện của ông Lê Văn B đối với bà Phạm Thị H và ông Đặng Phương N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc bà Phạm Thị H và ông Đặng Phương N có nghĩa vụ trả nợ tiền vay cho ông Lê Văn B số tiền 1.710.000.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm mười triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc ể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến hi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu hoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Phạm Thị H, ông Đặng Phương N đối với ông Lê Văn B về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với số tiền 200.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết đ nh về án phí, trách nhiệm chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/9/2024 bà Phạm Th H và ông Đặng Phương N là đơn có đơn kháng cáo, đề ngh Tòa án cấp phúc thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của đơn. Buộc nguyên đơn trả nợ cho đơn 130.000.000 đồng (200.000.000 đồng – 70.000.000 đồng). Tại phiên tòa, đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Ý kiến của i m sát viên đại diện Viện i m sát nhân dân tỉnh Bình Dương: người tham gia tố t ng, người tiến hành tố t ng tuân thủ đúng quy đ nh pháp luật. Về nội dung: đơn kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ mới. Đề ngh Hội đồng xét xử ác kháng cáo của đơn, giữ nguyên ản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của i m sát viên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Ông Lê Văn B (sau đây viết là nguyên đơn) kh i kiện ông Đặng Phương N, à Phạm Th H (sau đây viết là đơn) yêu cầu đơn trả nợ 1.710.000.000 đồng. Nguyên đơn cho rằng: nguyên đơn cho đơn vay 70.000.000 đồng ngày 20/4/2018 ằng hình thức chuy n khoản cho ông N; nguyên đơn cho đơn vay 1.800.000.000 đồng theo giấy vay nợ ngày 31/8/2018. Ngày 10/01/2019, ông N trả được 160.000.000 đồng (nguyên đơn có ký giấy xác nhận đã nhận 160.000.000 đồng). Tổng số tiền nguyên đơn cho đơn vay là 1.870.000.000 đồng. B đơn đã trả cho nguyên đơn 160.000.000.000 đồng, còn nợ lại 1.710.000.000 đồng. B đơn không trả nên nguyên đơn kh i kiện yêu cầu trả nợ.

B đơn khai: nguyên đơn và đơn có mối quan hệ gần. Vợ của nguyên đơn là bà H1 (đã ly hôn) là dì ruột của ông N. Do đơn có nhu cầu đi nước ngoài (nước Úc) nên nguyên đơn đứng ra lo thủ t c, chi phí đ đơn sang Úc làm ăn, có tiền sẽ trả lại cho nguyên đơn. Nguyên đơn yêu cầu đơn viết giấy vay nợ ngày 31/8/2018 có nội dung: đơn có vay của nguyên đơn 1.800.000.000 đồng và nguyên đơn có ghi vào giấy vay nợ: “số tiền này hi nào 2 cháu sang đến Úc làm trả sau” nhưng nguyên đơn không lo được thủ t c đi Úc. Trên th c tế đơn không vay 1.800.000.000 đồng của nguyên đơn. Do vậy,

đơn không đồng ý trả nợ cho nguyên đơn 1.800.000.000 đồng. Đối với yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn đòi đơn trả 70.000.000 đồng, đơn đồng ý trả. B đơn có yêu cầu phản tố: yêu cầu nguyên đơn trả nợ 200.000.000 đồng theo giấy tay ngày 10/01/2019 do nguyên đơn viết nhận của ông N 160.000.000 đồng và đơn viết: đưa tr c tiếp 40.000.000 đồng nhà dì Hưng ( út l c 181).

Hội đồng xét xử thấy rằng: số tiền 70.000.000 đồng, nguyên đơn chuy n khoản, đơn thừa nhận. Tòa án cấp sơ thẩm xác đ nh đơn nợ nguyên đơn số tiền này là có căn cứ. Số tiền 160.000.000 đồng theo giấy tay ngày 10/01/2019, Tòa án cấp sơ thẩm xác đ nh số tiền này đơn trả nợ cho nguyên đơn (không phải là số tiền đơn cho nguyên đơn vay) và số tiền 40.000.000 đồng, nguyên đơn không vay của đơn là có căn cứ. Đối với số tiền 1.800.000.000 đồng theo giấy vay nợ ngày 31/8/2018 do đơn viết, ký tên, đi m chỉ có nội dung: đơn có vay của nguyên đơn 1.800.000.000 đồng. Có căn cứ xác đ nh đơn có vay của nguyên đơn số tiền 1.800.000.000 đồng. Tuy nhiên, về thời hạn trả nợ: nguyên đơn đã ghi vào giấy vay nợ có nội dung: số tiền này (1.800.000.000 đồng) khi nào 2 cháu (bà H, ông N) sang đến Úc làm trả sau. Nguyên đơn ký tên xác nhận tại phía dưới hàng chữ người cho vay. Như vậy, nguyên đơn đã đồng ý cho đơn trả nợ cho nguyên đơn khi đơn sang đến Úc đi làm trả sau. Hiện tại, đơn vẫn đang Việt N, nguyên đơn chưa có đủ điều kiện đ kh i kiện đơn đòi nợ 1.800.000.000 đồng (đi m khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố t ng dân s và khoản 1 Điều 3 Ngh quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). Tòa án cấp sơ thẩm xử uộc đơn trả nợ cho nguyên đơn 1.710.000.000 đồng là không đúng pháp luật. Xét cần uộc đơn trả nợ cho nguyên đơn 70.000.000 đồng. B đơn đã trả cho nguyên đơn được 160.000.000 đồng sẽ được trừ vào số tiền đơn đã vay của nguyên đơn 1.800.000.000 đồng. Hủy một phần ản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết v án đối với yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn đòi

đơn trả nợ 1.640.000.000 đồng (1.800.000.000 đồng - 160.000.000 đồng) do nguyên đơn chưa có đủ điều kiện kh i kiện (đi m khoản 1 Điều 192, đi m g khoản 1 Điều 217, khoản 4 Điều 308, Điều 311 Bộ luật Tố t ng dân s ).

Xét yêu cầu phản tố của đơn, Tòa án cấp sơ thẩm xử không chấp nhận là có căn cứ.

Xét yêu cầu kháng cáo của đơn là có cơ s chấp nhận một phần. Ý kiến của i m sát viên là chưa phù hợp. Án phí sơ thẩm: đơn phải ch u theo quy đ nh. Án phí phúc thẩm: đơn không phải ch u.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều: 280, 357, 463, 465, 466, 470 Bộ luật Dân s ;

- Căn cứ các Điều: 147; 148; đi m khoản 1 Điều 192; đi m g khoản 1 Điều 217; khoản 2, 4 Điều 308; Điều 309; Điều 311 Bộ luật Tố t ng dân s ;

- Căn cứ các Điều: 26, 29 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường v Quốc hội quy đ nh mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ khoản 1 Điều 13 Ngh quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp d ng một số quy đ nh của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của à Phạm Th H và ông Đặng Phương N.

1. Sửa Bản án số 299/2024/DS-ST ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố D như sau:

- Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của ông Lê Văn B đối với à Phạm Th H và ông Đặng Phuong N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Buộc à H và ông N có nghĩa v trả nợ cho ông B 70.000.000 đồng.

- hông chấp nhận yêu cầu phản tố của à Phạm Th H và ông Đặng Phương N về việc yêu cầu ông Lê Văn B trả nợ 200.000.000 đồng.

2. Hủy một phần Bản án số 299/2024/DS-ST ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố D và đình chỉ giải quyết v án về phần giải quyết yêu cầu kh i kiện của ông Lê Văn B yêu cầu à Phạm Th H, ông Đặng Phương N trả nợ 1.640.000.000 đồng (theo giấy vay nợ ngày 31/8/2018 là 1.800.000.000 đồng trừ đi số tiền ông N, bà H đã trả cho ông B 160.000.000 đồng).

3. Về án phí:

- Án phí sơ thẩm: Ông Lê Văn B không phải ch u. Chi c c Thi hành án dân s thành phố D trả lại cho ông B 31.650.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001008 ngày 24/6/2024. Bà Phạm Th H, ông Đặng Phương N phải ch u 11.500.000 đồng được trừ vào 3.250.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001444 ngày 12/8/2024 của Chi c c Thi hành án dân s thành phố D. Ông N, bà H còn phải nộp tiếp 8.250.000 đồng.

- Án phí phúc thẩm: ông Đặng Phương N, à Phạm Th H không phải ch u. Chi c c Thi hành án dân s thành phố D trả lại cho ông N, bà H 600.000 đồng Theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001522 ngày 20/9/2024.

từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, ên phải thi hành án còn phải ch u khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các ên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy đ nh của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết đ nh theo mức lãi suất quy đ nh tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân s năm 2015.

Trường hợp ản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân s .

Bản án phúc thẩm có hiệu l c pháp luật k từ ngày tuyên án./.

N i nhận:

Cỡ chữ