- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T ly hôn anh H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Đỗ Mạnh H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 628/2019/HNGĐ-ST Ngày: 20-11-2019 V/v: Ly hôn, nuôi con giữa chị T và anh H |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Bang
Các hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Văn Giản
Bà Nguyễn Thị Kim Anh
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Soan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Thành – Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 491/2019/TLST-HNGĐ ngày 10- 9 - 2019 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 17-10-2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 58/2019/QĐST-HNGĐ ngày 04-11-2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1991; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 4/31/47 đường P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Ngõ 281 đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: Anh Đỗ Mạnh H, sinh năm 1992; nơi cư trú: Số nhà 4/31/47 đường P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định
Tại phiên tòa: Nguyên đơn là chị Hoàng Thị T có mặt; bị đơn là anh Đỗ Mạnh H vắng mặt lần hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện nộp ngày 10-9-2019, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Mạnh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 13-12-2013 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống. Khi vợ chồng xảy ra cãi chửi nhau thì anh H còn đánh đập chị. Năm 2018 chị đã chuyển đi nơi khác sinh sống. Vợ chồng ly thân từ thời gian đó đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể giải quyết được nên đề nghị giải quyết ly hôn với anh H.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Đỗ Băng A, sinh ngày 21-6-2014 và Đỗ Hoàng Thiên Â, sinh ngày 03-5-2017. Ly hôn chị có nguyện vọng nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và công nợ chung: Chị Hoàng Thị T xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn là anh Đỗ Mạnh H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa án làm bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; tại phiên tòa anh Hải vẫn vắng mặt. Do đó, anh H không có quan điểm giải quyết vụ án.
Biên bản thu thập tài liệu chứng cứ ngày 17-9-2019, chính quyền địa phương nơi chị T và anh H sinh sống cung cấp: Vợ chồng chị Hoàng Thị T và anh Đỗ Mạnh H cư trú tại số nhà 4/31/47 đường P, phường T, thành phố N. Quá trình chung sống của hai bên có xảy ra mâu thuẫn nhưng không báo chính quyền hòa giải. Về con chung, chị T và anh H có 02 con chung là Đỗ Băng A, sinh năm 2014 và Đỗ Hoàng Thiên Â, sinh năm 2017. Hiện nay chị T cùng với con đã chuyển đi nơi khác sinh sống.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định căn cứ vào Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 97 và Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nhận xét đánh giá về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét mâu thuẫn giữa chị Hoàng Thị T và anh Đỗ Mạnh H đã trầm trọng, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử ly hôn giữa chị T và anh H.
Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Đỗ Băng A, sinh ngày 21-6-2014 và Đỗ Hoàng Thiên Â, sinh ngày 03-5-2017 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và công nợ chung: Chị Hoàng Thị T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là anh Đỗ Mạnh H đã được tống đạt hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Đỗ Mạnh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 13 tháng 12 năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống của chị Hoàng Thị T và anh Đỗ Mạnh H phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân. Đối với anh H, Tòa án đã triệu tập nhưng anh H không đến tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tại phiên tòa anh H vắng mặt không có lý do thể hiện việc anh H không có thiện chí hòa giải, giải quyết mâu thuẫn của vợ chồng. Tại phiên tòa chị T giữ nguyên yêu cầu đề nghị giải quyết ly hôn với anh H. Xét mâu thuẫn của vợ chồng chị T và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử có căn cứ xử cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Đỗ Mạnh H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Hoàng Thị T và anh Đỗ Mạnh H có hai con chung là Đỗ Băng A, sinh ngày 21-6-2014 và Đỗ Hoàng Thiên Â, sinh ngày 03-5-2017. Anh H không có quan điểm giải quyết về giao nuôi con chung. Để đảm bảo sự ổn định và sự phát triển của con, Hội đồng xét xử sẽ giao cả hai con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản và công nợ chung: Chị Hoàng Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí ly hôn: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn là chị Hoàng Thị T phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Đỗ Mạnh H.
2. Về nuôi con: Giao cả hai con chung là Đỗ Băng A; giới tính: nữ, sinh ngày 21-6-2014 và Đỗ Hoàng Thiên Â; giới tính: nam, sinh ngày 03-5-2017 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hoàng Thị Th không yêu cầu Đỗ Mạnh H cấp dưỡng nuôi con.
Anh Đỗ Mạnh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Hoàng Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Thảo đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002496 ngày 10 tháng 9 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.
4. Quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đỗ Mạnh H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Bang |