- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Diễm Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Diễm Q; sửa phần hình phạt đối với bị cáo Vũ Diễm Q tại Bản án hình sự sơ thẩm số 246/2024/HS-ST ngày 09/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố H như sau:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 626/2024/HS-PT Ngày: 12/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai;
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Văn Nam;
Ông Nguyễn Tiến Dũng.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tùng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Phong - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 696/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Vũ Diễm Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 246/2024/HS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Vũ Diễm Q; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 2000 tại T; Nơi thường trú: tổ 14, phường Q1, thành phố T, tỉnh T; Nơi ở hiện tại: P1717 Tòa S205 V, xã Đ, huyện G, thành phố H; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Họ tên bố: Vũ Việt H1; Họ tên mẹ: Vũ Thị T1; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 24/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố H. Số giam: 2388C2/M2; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Vũ Diễm Q: Ông Hà Trọng Đ1 và ông Phạm Kỳ D - Công ty Luật TNHH Hà Trọng Đ1 và cộng sự thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Phùng Đức Q2, Vũ K không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 24/4/2023, tại khu vực số 9A/26 hẻm 119 ngách 310/50 N, phường T2, quận T3, thành phố H, Tổ công tác - Công an quận T3 phát hiện bắt quả tang Vũ K có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ của Vũ K gồm:
- 01 gói giấy bên trong có 01 túi ni-lông chứa 100 viên nén màu hồng (K cất giấu tại bờ tường cạnh cột đèn trước nhà số 9A/26 hẻm 119 ngách 310/50 N, phường T2, quận T3, thành phố H);
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng đã qua sử dụng, lắp số thuê bao: 0974229238;
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio Liberty màu trắng BKS 89F1-273.99, số khung RP8M89130GV110518, số máy M891M5011578, xe đã qua sử dụng;
Cơ quan công an đã đưa Vũ K cùng tang vật về trụ sở để làm việc. Tại cơ quan điều tra, K khai nhận cùng tham gia mua bán trái phép chất ma túy với Phùng Đức Q2 và Vũ Diễm Q.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ K và Vũ Diễm Q tại phòng 1717 tòa S.205 V, xã Đ, huyện G, Hà Nội, phát hiện thu giữ tại phòng ngủ 02 túi ni-lông màu trắng (trong đó 01 túi chứa 63 viên nén màu hồng và 01 túi chứa 370 viên nén màu hồng). Ngoài ra còn thu giữ của Vũ Diễm Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng lắp số thuê bao 0982783212 và 01 căn cước công dân mang tên Vũ Diễm Q.
Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 24/4/2023, khi cơ quan công an đến tòa R, chung cư T4, phường M, quận N2, H để triệu tập và thi hành lệnh khám xét khẩn cấp đối với Phùng Đức Q2 thì gặp Q2 tại sảnh toà nhà, biết không thể thoát khỏi sự xử lý của pháp luật nên Q2 đã phối hợp điều tra, tự nguyện giao nộp 01 túi xách màu đen bên trong có 01 túi ni-lông màu trắng chứa tinh thể màu trắng, Q2 khai là ma túy Ketamine. Ngoài ra còn thu giữ của Q2: 01 thẻ tạm trú và 01 hộ chiếu mang tên Phùng Đức Q2; 01 điện thoại di động màu trắng lắp số thuê bao 0862149310; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung lắp số thuê bao 0563452743 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung không có thẻ sim.
Đồng thời Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phùng Đức Q2 tại Phòng 1202 - tòa R, phát hiện thu giữ của Phùng Đức Q2:
- 02 hộp hình trụ kích thước cao khoảng 12 cm, đường kính khoảng 10 cm bên trong chứa chất dẻo màu vàng, 01 thẻ ngân hàng MBank mang tên MAI THI T5, 01 ống hút tự tạo bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng tiền Việt Nam đang lưu hành.
Tại bản kết luận giám định số 2703/KL-KLHS ngày 02/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H kết luận:
“ 1. Tang vật thu giữ khi bắt quả tang Vũ K có:
- 100 viên nén màu hồng bên trong 01 túi ni-lông đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 28,800 gam.
2. Tang vật thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ K có:
- 433 viên nén màu hồng bên trong 02 túi ni-lông đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng: 121,540 gam.
3. Tang vật thu giữ của Phùng Đức Q2 có:
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni-lông là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng: 6,270 gam;
4. Tang vật thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phùng Đức Q2 có:
- 01 thẻ ngân hàng MB mang tên MAI THI T5 và 01 ống hút tự tạo bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng đều dính ma túy Ketamine.
- Chất dẻo màu vàng bên trong 01 hộp kim loại kích thước cao 12 cm, đường kính 10 cm là nhựa cần sa, tổng khối lượng: 369,57 gam.
- Chất dẻo màu vàng bên trong 01 hộp kim loại kích thước cao 12 cm, đường kính 10 cm là nhựa cần sa, tổng khối lượng: 431,81 gam.”
Kết quả điều tra như sau:
Phùng Đức Q2 là người quốc tịch Canada. Khoảng đầu năm 2022, Q2 từ Canada về Việt Nam chơi và ở lại cho đến nay. Khoảng tháng 02/2022, qua bạn bè xã hội, Phùng Đức Q2 quen biết với Vũ K. Khoảng tháng 6/2022, Vũ K quen Vũ Diễm Q và có quan hệ tình cảm với nhau. Sau đó cả hai cùng nhau sinh sống tại Phòng 1717 tòa S205 V, xã Đ, huyện G, Hà Nội từ tháng 3/2023 đến nay. Qua nói chuyện, Q2 rủ K tham gia mua bán trái phép chất ma túy để bán kiếm lời, Q2 sẽ đặt mua thuốc lắc từ Canada chuyển về Việt Nam và K là người tìm khách mua ma túy. K đồng ý và rủ Q cùng mình tham gia bán ma túy cho Q2.
Cũng trong tháng 02/2023, Q2 liên lạc với một nam giới tên T6, khoảng 35 tuổi, sinh sống ở Canada (không rõ tên tuổi, địa chỉ) đặt mua khoảng 500 viên ma túy “thuốc lắc”, với giá tiền là 1000 đô la Canada, tương đương 17.000.000đ (Mười bảy triệu đồng) tiền Việt Nam, sau đó thuê người không quen biết vận chuyển cho K. K nhận ma túy Q2 giao thông qua người vận chuyển, ma túy có đặc điểm là 01 hộp cát tông màu trắng bên ngoài có chữ “Canada”, bên trong có 02 hộp, mặt ngoài ghi chữ “Vitamin C” bên trong có nhiều viên nén màu hồng, trắng, cam, bao gồm thuốc lắc và Vitamin C. Q2 bảo K mang số ma túy trên về phòng tách số Vitamin C và thuốc lắc ra, sau đó Q và K cùng lọc lấy các viên thuốc lắc và thông báo lại cho Q2 biết số lượng là hơn 500 viên thuốc lắc. Đến đầu tháng 4/2023, Q2 bảo K chuyển cho Q2 toàn bộ số ma túy trên.
Sáng ngày 21/04/2023, một nữ giới có tài khoản Zalo tên “Hĩm Ciu” (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) liên lạc với Q hỏi mua 100 viên thuốc lắc, Q báo giá là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Sau đó, Q nói lại cho K biết để K liên lạc bảo Q2 mang ma túy đến. Khoảng 12 giờ ngày 24/4/2023, Q2 cùng Mai Thị T5 (sinh năm 2002, nơi thường trú tại xã V2, huyện B, tỉnh H2) và bạn xã hội tên M2 (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đến nhà K. Tại khu vực bàn bếp, Q2 đưa cho K 01 túi ni-lông màu đen bên trong chứa nhiều viên nén màu hồng là thuốc lắc. Sau đó, Q2, K, T5, Q và M2 cùng đi ăn. Trong lúc ăn Q gửi địa chỉ người mua ma túy cho K. K bảo với Q báo lại giá với khách là 150.000 đồng/01 viên thuốc lắc và tiền công giao ma túy là 1.000.000đ (Một triệu đồng). Sau đó, Q liên lạc với khách mua ma túy hẹn giao ma túy tại ngách 310/50 N, phường T2, quận T3, H. Đồng thời, K nói cho Q2 biết giá cả và số lượng ma túy khách hỏi mua. K thỏa thuận với Q2 nếu bán được số ma túy trên sẽ chia đôi tiền cho Q2. Sau đó, K đi về phòng ngủ căn hộ lấy túi thuốc lắc Q2 đưa trước đó, mở túi ra lấy 100 viên thuốc lắc để vào trong 01 túi ni-lông nhỏ và bọc vào gói giấy đem đi bán cho khách, số ma túy còn lại K để ở phòng ngủ. Sau đó, K điều khiển xe máy hiệu Piaggio Liberty màu trắng, BKS 89F1-273.99 đi đến địa chỉ ngách 310/50 N, K đặt gói ma túy vào bờ tường cạnh cột đèn trước nhà số 9A/26 rồi quay lại vị trí đỗ xe thì bị cơ quan công an kiểm tra bắt giữ.
Kết quả kiểm tra điện thoại thu giữ của Phùng Đức Q2, Vũ K và Vũ Diễm Q và kết quả thu giữ thư tín, điện tín số thuê bao 0982783212, 0974229238 K và Q sử dụng có các cuộc gọi, tin nhắn zalo có nội dung trao đổi về việc mua bán ma túy phù hợp với lời khai nhận tội của các đối tượng.
Về nguồn gốc 533 viên thuốc lắc Phùng Đức Q2 đưa cho Vũ K ngày 24/4/2023; 02 hộp nhựa cần sa thu giữ tại nhà Q2 và 01 túi ma túy Ketamine thu giữ của Phùng Đức Q2: Q2 khai đều mua của người đàn ông tên T6 ở Canada, mục đích cất giấu để mang bán cho khách kiếm lời. Về đối tượng nam giới tên T6 tại Canada, do Phùng Đức Q2 không khai rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với Mai Thị T5 (sinh năm 2002, nơi thường trú tại xã V2, huyện B, tỉnh H2): T5 khai khoảng tháng 8/2022 T5 quen và có quan hệ tình cảm với Phùng Đức Q2. Ngày 24/4/2023, Q2 rủ T5 đến nhà K chơi và Q2 có rủ bạn xã hội tên M2 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) đi cùng. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Q đón Q2, T5, M2 lên phòng 1717- S205 V, xã Đ, huyện G, Hà Nội. Vào đến phòng, T5, M2 đi vào phòng khách chơi. Q lúc đó đang ở gian bếp rửa bát. Còn Q2 và K đứng ở khu vực bàn ăn nói chuyện. Mai Thị T5 không biết Q2 mang theo ma túy, không liên quan việc mua bán trái phép chất ma túy của Q2, K và Q nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Về đối tượng có tài khoản Zalo tên “Hĩm Ciu”, khoảng 30 tuổi là người đặt mua ma túy của Vũ Diễm Q: Q khai khoảng tháng 6/2022 Q quen biết nữ giới tên Hĩm (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) cùng thuê trọ tại nhà số 7B, hẻm 119 ngách 310/50 N, phường T2, quận T3, H. Qua xác minh tại địa chỉ trên và rà soát camera tại địa bàn không xác định được đối tượng tên Hĩm nên không có cơ sở để điều tra xử lý.
Về đối tượng tên “M2” đi cùng Phùng Đức Q2, Mai Thị T5 đến nhà Vũ K ngày 24/4/2023, do các đối tượng không khai rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để xác minh làm rõ.
Về chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio Liberty màu trắng BKS 89F1-27399, số khung RP8M89130GV110518, số máy M891M5011578, xác minh chủ sở hữu là của Vũ K. Ngày 24/4/2023, Vũ K điều khiển chiếc xe trên đi bán ma túy cho khách thì bị bắt giữ. Cơ quan điều tra đã chuyển vật chứng để truy tố, xét xử theo quy định pháp luật.
Tại cơ quan điều tra, Phùng Đức Q2, Vũ K và Vũ Diễm Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị can phù hợp với lời khai của người chứng kiến, người liên quan, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 688/CT-VKS ngày 28/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo:
- Bị cáo Phùng Đức Q2 về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm h, khoản 4, Điều 251 Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo Vũ K và Vũ Diễm Q về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b, khoản 4, Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 246/2024/HS-ST ngày 09/5/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:
Căn cứ vào điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Diễm Q phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Vũ Diễm Q 14 (Mười bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giữ 24 tháng 4 năm 2023.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo khác; xử lý vật chứng; án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 21/5/2024, bị cáo Vũ Diễm Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Vũ Diễm Q giữ nguyên kháng cáo xin giảm hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm: Bị cáo Vũ Diễm Q giữ vai trò thứ yếu trong vụ án và chưa được hưởng lợi từ hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt; quá trình điều tra, xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra; gia đình bị cáo có công với cách mạng. Do đó, đề nghị HĐXX phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Diễm Q, sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm:
Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, quyết định của Tòa án sơ thẩm và căn cứ kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Vũ Diễm Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan;
Bị cáo Vũ Diễm Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo giữ vai trò không đáng kể trong vụ án nên Tòa án sơ thẩm vận dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để tuyên phạt bị cáo Vũ Diễm Q 14 (Mười bốn) năm tù - dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề là đúng quy định.
Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu, chứng cứ về việc hiện nay mẹ ruột bị cáo là bà Vũ Thị T1 đang mắc bệnh hiểm nghèo, phải điều trị liên tục; bị cáo có bố ruột là ông Vũ Việt H1 được UBND huyện T7, tỉnh T tặng giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của huyện; bản thân bị cáo được UBND phường Q1, thành phố T, tỉnh T xác nhận đã tích cực tham gia phong trào phòng chống dịch bệnh của địa phương trong giai đoạn bùng phát dịch covit; Bố mẹ bị cáo hiện đang thờ cúng liệt sỹ là ông nội chú của bị cáo. Đây là những tình tiết mới chưa được Tòa án sơ thẩm xem xét vận dụng đối với bị cáo nên đề nghị HĐXX phúc thảm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị cáo từ 01 đến 02 năm tù.
Bị cáo nói lời sau cùng và kính mong HĐXX giảm hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào bản án sơ thẩm, các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra công khai tại phiên tòa phúc thẩm, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, luật sư, của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Kháng cáo của bị cáo Vũ Diễm Q trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Diễm Q khai nhận hành vi phạm tội phù hợp lời khai của các bị cáo Phùng Đức Q2, Vũ K và biên bản phạm tội quả tang, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở để kết luận :
Hồi 14 giờ 15 phút ngày 24/4/2023, tại khu vực số 9A/26 hẻm 119 ngách 310/50 N, phường T2, quận T3, thành phố H, Công an quận T3 phát hiện bắt quả tang Vũ K có hành vi mua bán trái phép 28,800 gam ma túy loại MDMA. Khám xét chỗ ở của Vũ K và Vũ Diễm Q tại Phòng 1717- tòa S.205 V, xã Đ, huyện G, thành phố H thu giữ 121,540 gam ma tuý loại MDMA. Nguồn gốc số ma túy trên là của Phùng Đức Q2 đưa cho Vũ K và Vũ Diễm Q để bán kiếm lời, lợi nhuận thu được chia đôi.
Ngoài ra, khám xét người và chỗ ở của Phùng Đức Q2 tại Phòng 1202 - tòa R, chung cư T4, phường M, quận N2, thành phố H còn thu giữ 6,270 gam ma tuý loại Ketamine và 801,81 gam ma túy nhựa cần sa. Q2 khai mục đích cất giấu để bán kiếm lời, Vũ K và Vũ Diễm Q không liên quan đến số lượng ma túy thu giữ tại nhà Q2.
Tòa án sơ thẩm xác định Vũ K và Vũ Diễm Q phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép 150,34 gam ma tuý loại MDMA; Phùng Đức Q2 phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép 150,34 gam ma tuý loại MDMA; 6,270 gam ma tuý loại Ketamine và 801,81 gam ma túy nhựa cần sa là đúng quy định.
Hành vi của bị cáo Vũ Diễm Q đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Bộ luật Hình sự; Tòa án sơ thẩm xét xử bị cáo Q theo điểm b, khoản 4, Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.
Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Vũ Diễm Q:
Bị cáo bị truy tố, xét xử theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có khung hình phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tích cực hợp tác với cơ quan điều tra; gia đình có công với cách mạng nên Tòa án sơ thẩm vận dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thấp hơn liền kề là đúng quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu, chứng cứ về việc hiện nay mẹ ruột bị cáo là bà Vũ Thị T1 đang mắc bệnh hiểm nghèo, có bố ruột là ông Vũ Việt H1 được UBND huyện T7, tỉnh T tặng giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của huyện; có ông chú là liệt sỹ mà bố mẹ bị cáo hiện đang thờ cúng; bản thân bị cáo được UBND phường Q1, thành phố T, tỉnh T xác nhận đã tích cực tham gia phong trào phòng chống dịch bệnh của địa phương trong giai đoạn bùng phát dịch covit. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới chưa được Tòa án sơ thẩm xem xét vận dụng đối với bị cáo.
Xét bị cáo Vũ Diễm Q là phụ nữ, có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiểu tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; phạm tội lần đầu và là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể. Qua phân hóa vai trò của bị cáo trong vụ án, so sánh với mức hình phạt của các bị cáo Phùng Đức Q2, Vũ K thì mức hình phạt 14 năm tù đối với bị cáo Vũ Diễm Q là tương đối nghiêm khắc. Đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo Q của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có cơ sở, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị cáo Vũ Diễm Q nhằm thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về với cuộc sống lương thiện.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Vũ Diễm Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH
1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Diễm Q; sửa phần hình phạt đối với bị cáo Vũ Diễm Q tại Bản án hình sự sơ thẩm số 246/2024/HS-ST ngày 09/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố H như sau:
Căn cứ vào điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Diễm Q phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Vũ Diễm Q 12 (Mười hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giữ 24 tháng 4 năm 2023.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Vũ Diễm Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND TP H; - VKSND TP H; - Công an TP H; - Cục T.H.A DS TP H; - Trại Tạm giam Công an TP H; - Bị cáo (qua trại TG); - Lưu HS, VT, Phòng HC-TP TANDCC, TP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Mai |