- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà A.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 626/2021/HNGĐ-ST Ngày 27 tháng 12 năm 2021 Về việc: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Oánh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Quang Cảnh
2. Ông Thái Hoàn Xanh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Thành, Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thúy Hà, Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 12 năm 2021, Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 796/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 423/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà A, sinh năm 1981,
Địa chỉ: đường V, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Bị đơn: Ông B, sinh năm 1980,
Địa chỉ: tđường V, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà A và ông B có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn ngày 14/8/2020, bản tự khai ngày 03/11/2021, Biên bản họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 30/11/2021 nguyên đơn bà A trình bày:
Bà A và ông B tự nguyện sống chung, có tổ chức đám cưới và có đăng kí kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn Số 59, quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng từ cuối năm 2017 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do lối sống không phù hợp, giữa vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau về cách chăm sóc con, chi tiêu tiền bạc. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nay bà yêu cầu ly hôn với ông B.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung tên C (nam), sinh ngày 25/07/2006 và D (nam), sinh ngày 17/02/2011. Bà A yêu cầu được muôi hai con chung, không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông B trình bày tại Biên bản lấy lời khai đương sự ngày 09/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai:
Ông và bà A tự nguyện sống chung, có tổ chức đám cưới và đăng kí kết hôn có đăng kí kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn Số 59, quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn, tuy nhiên mâu thuẫn không quá gay gắt. Nay bà A yêu cầu ly hôn ông B không đồng ý.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung tên C (nam), sinh ngày 25/07/2006 và D (nam), sinh ngày 17/02/2011. Do ông không đồng ý ly hôn nên về việc giải quyết phần con chung ông không có ý kiến khác.
Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do ông hiện đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai nên ông đề nghị giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau: Về thẩm quyền thụ lý vụ án đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Về tư cách pháp lý của nguyên đơn, bị đơn đúng quy định tại khoản 2, 3 Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà A về việc ly hôn; Bà A ly hôn ông B; Về con chung: Giao con chung tên C (nam), sinh ngày 25/07/2006 và D (nam), sinh ngày 17/02/2011 cho bà A nuôi dưỡng ghi nhận việc bà A không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự không yêu cầu Tòa án giải quyết; Án phí buộc bà A phải nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tại đơn khởi kiện ngày 14/8/2020, nguyên đơn bà A yêu cầu ly hôn đối với ông B là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn ông B có nơi cư trú tại quận T, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà A và ông B kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 59, quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân phường T, quận B, thành phố Hà Nội chứng nhận là phù hợp quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nguyên đơn bà A xác định yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông B với nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã dẫn đến hạnh phúc không còn, mục đích hôn nhân không đạt.
Bị đơn ông B xác định giữa vợ chồng có mâu thuẫn tuy nhiên không trầm trọng và quá gay gắt. Do đó, bị đơn ông B không đồng ý ly hôn như yêu cầu của nguyên đơn bà A.
Nhận thấy, trong quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh mâu thuẫn thì tại Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở bắt buộc số 406/QĐ-TA ngày 17/12/2020, Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định buộc ông B chấp hành biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy P 18 tháng kể từ ngày 02/10/2020 và tại văn bản ngày 22/11/2021 của Hội liên hiệp phụ nữ nơi ông B và bà A sinh sống và cư trú xác định: Qua kết quả xác minh, thời điểm trước ngày 02/10/2020, bà A và ông B có thực tế chung số tại đường V, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, từ lúc bị nợ nần kéo đến đòi và tạt sơn cách đây khoảng 2 năm thì không còn thực tế ở tại đường V nữa, chỉ còn bà A lâu lâu có ghé về nhà. Trong thời gian chung sống, giữa hai ông bà không xẩy ra mâu thuẫn gì vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng; do đó lời trình bày của bà A về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là có cơ sở để chấp nhận.
Hội đồng xét xử nhận thấy ông bà không còn thực hiện nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà A về việc ly hôn đối với ông B là có cơ sở và phù hợp pháp luật theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung tên C (nam), sinh ngày 25/07/2006 và D (nam), sinh ngày 17/02/2011. Bà A yêu cầu được muôi hai con chung, không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung.
Nhận thấy, nguyên đơn bà A là người trực tiếp nuôi hai cháu C (nam), sinh ngày 25/07/2006 và D (nam), sinh ngày 17/02/2011 và hai cháu Minh, Anh có nguyện vọng chung sống với mẹ ruột là bà A, để ổn định tâm sinh lý và căn cứ hoàn cảnh hiện tại của hai cháu đang sinh sống; Cùng căn cứ vào mọi quyền lợi về mọi mặt của hai cháu Minh, Anh, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung tên C (nam), sinh ngày 25/07/2006 và D (nam), sinh ngày 17/02/2011 cho bà A nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bà A không yêu cầu ông B thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiển sát nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà A về việc ly hôn; Bà A ly hôn ông B; Về con chung: Giao con chung tên C (nam), sinh ngày 25/07/2006 và D (nam), sinh ngày 17/02/2011 cho bà A nuôi dưỡng ghi nhận việc bà A không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự không yêu cầu Tòa án giải quyết là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (ba trăm ngàn) đồng do nguyên đơn bà A phải nộp không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, Điều 264, 266, 267, 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự;
- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà A.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà A ly hôn ông B.
Giấy chứng nhận kết hôn số 59, quyển số 01/2007 của Ủy ban nhân dân phường T, quận B, thành phố Hà Nội không còn giá trị pháp luật kể từ ngày bản án có hiệu lực.
2. Về con chung: Bà A được quyền trực tiếp nuôi 02 (hai) con chung tên C (nam), sinh ngày 25/07/2006 và D (nam), sinh ngày 17/02/2011 và có quyền yêu cầu ông B cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của bà A.
Ông B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Bà A cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà B trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Trường hợp ông B lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà A có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của ông B.
Trong trường hợp bà A không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì trên cơ sở lợi ích của con, ông B hoặc người thân thích, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về phương thức cấp dưỡng: Bà A không yêu cầu ông B thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết;
4. Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà A phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí sơ thẩm nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0070974 ngày 02/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận T. Bà A đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Viện Trưởng viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND quận Tân Phú; - Chi cục THADS quận Tân Phú; - UBND phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội (để ghi vào sổ hộ tịch); - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Ngọc Oánh |